Bốn chân lý cao cả

19/01/201105:47(Xem: 14098)
Bốn chân lý cao cả

TRÍHUỆVÀ ĐẠI BI

TenzinGyatso Dalai Lama thứ 14
Nguyêntác:Kindness, Clarity and Insight, Snow Lion Publications Ithaca NewYork USA 1990
BảndịchViệt: Thiện Tri Thức 2000 PL. 2543

BỐNCHÂN LÝ CAO CẢ*

Trongtổngthể, mọi tôn giáo có một động cơ tương tự, chúngđược phấn kích bởi tình thương và bi mẫn, và nếu quanđiểm triết lý của chúng bao gồm những khác biệt rộnglớn, chúng có ít ra là một mục tiêu chung : làm cho con ngườitiến bộ. Tuy nhiên, mỗi tôn giáo có những phương pháp riêngđể đạt được điều đó. Thế kỷ chúng ta đã làm mộtbước nhảy khổng lồ trong sự truyền thông, và vì thế,hành tinh chúng ta trở nên càng ngày càng nhỏ hơn, nhưng chínhđó là một dịp quý giá để chúng ta đến gần nhau, khámphá lẫn nhau trong những khác biệt văn hóa của chúng ta, traođổi những quan điểm của chúng ta. Chúng ta có biết bao điềuđể học hỏi lẫn nhau, để rút tỉa ra từ đó.

Chẳnghạn những người Thiên Chúa giáo đã biết đem những phươngtiện hoàn toàn hiệu quả để phụng sự nhân loại mà nhữngngười Phật giáo có thể mô phỏng, đặc biệt là trong nhữnglãnh vực giáo dục và sức khỏe. Đồng thời, người ta tìmthấy trong Phật giáo những phương pháp tinh vi về thiền địnhsâu xa và một biện chứng pháp chặt chẽ có thể có lợicho những người Thiên Chúa giáo. Chính như thế mà ở Ấnđộ cổ thời, những người Ấn giáo và Phật giáo đã làmphong phú lẫn nhau nhiều.

Chúngta không có nguy cơ gì khi trao đổi những hiểu biết củachúng ta, điều ấy chỉ có thể giúp chúng ta phát triển mộtsự kính trọng lẫn nhau, bao giờ mà phía này và phía kia,chúng ta chỉ mong muốn điều tốt đẹp cho nhân loại. Chínhtrong tinh thần này mà bây giờ tôi sắp trình bày một vàinét của tư tưởng Phật giáo.

Giáolý của Phật hoàn toàn được xây dựng trên bốn Chân LýCao Cả : những chân lý về những sự khổ, về những nguồngốc, về những sự dừng dứt và về những con đường. BốnChân lý Cao cả tạo thành hai nhóm quả và nhân :

–¬Những khổ đau và những nguyên nhân của chúng.

–Những sự dừng dứt khổ và những con đường để thựchiện sự dừng dứt chúng.

Khổthìgiống như một cơn bệnh : những điều kiện bên ngoàivà bên trong chịu trách nhiệm về cơn bệnh đó là nhữngnguồn gốc, sự dừng dứt khổ cùng những nguyên nhân củakhổ là sự lành bệnh. Những con đường đích thực là nhữngphương thuốc.

Thứtự những hậu quả (khổ và diệt khổ) đứng trước nhữngnguyên nhân (nguồn gốc của khổ và những con đường) cólý do của nó. Trước hết cần biết rằng người ta đã mắcmột cơn đau bệnh, nghĩa là tin vào sự có mặt của khổ(Chân lý cao cả thứ nhất). Nhưng điều đó chưa đủ ; cònphải biết rõ những nguyên nhân gây bệnh để tìm ra thuốcchữa. Những nguyên nhân ấy sáng tỏ khi nghiên cứu cái thứhai của bốn Chân lý, Chân lý về những nguyên nhân. Nếuđiều quan trọng là tìm ra gốc gác của căn bệnh, thì cũngchính yếu không kém khi biết có thể chữa lành được không.Sự tin tưởng có phương thuốc liên hệ đến mức độ thứba trong đó sự có thật của sự diệt dứt và những nguyênnhân kèm theo được bày tỏ.

Mộtkhi chúng ta đã nhận ra bệnh, hiểu rõ những nguyên nhân củanó, có được sự xác tín rằng có thể chữa lành, chúngta chỉ còn phải dùng những phương thuốc và theo cách sửdụng để chấm dứt nó. Phải tin tưởng vào thứ tự nàyđể mượn những con đường trên đó người ta gặp đượctrạng thái thoát khỏi mọi khổ đau.

Bướcđầu tiên không thể sai chạy cốt ở nhận ra sự khổ. Nóbiểu lộ một cách tổng quát dưới ba hình thức chính : khổcủa khổ (khổ khổ), khổ của sự biến dịch (hoại khổ),khổ nội tại và cấu tạo nên thân phận con người (hànhkhổ).

Ởmức độ đầu tiên, có sự khổ mà chúng ta thường gọilà đau đớn thể xác hay tinh thần, ví dụ đau đầu. Ướcmong thoát khỏi nó không riêng với con người ; con vật cũngmuốn thế. Có những phương tiện để ngăn trừ nó, như dùngmột thứ thuốc, mặc ấm hơn hay tránh xa nguồn gốc củanó.

Mứcdộ thứ hai, khổ của sự biến hoại, gồm những hình thứcbề ngoài của lạc thú mà khi phân tích kỹ càng, chúng phátlộ bản chất khổ của chúng. Đây là một ví dụ : thườngthường, mua một chiếc xe hơi mới được xem như một biếncố dễ chịu, và ban đầu các bạn tìm thấy một lạc thúbao la khi lái nó. Nhưng càng dùng nó bao nhiêu, nó càng đặtra cho các bạn những vấn đề. Nếu vật là một nguồn thỏamãn tự thân, hiệu quả lạc thú phải tăng lên tỷ lệ vớisự dùng nó. Vậy mà điều ngược lại đã xảy ra. Càng dùngnó bao nhiêu, chiếc xe của bạn càng gây cho bạn nhiều mốiphiền não. Sự biến hoại ở đây phát lộ bản chất khổsở của nó, do đó mà có tên khổ của sự biến hoại.

Phươngdiện thứ ba của khổ là cái căn cứ từ đó phát xuất rahai cái kia, và những hợp thể (các uẩn) nhiễm ô của thânvà tâm là đại diện cho cái khổ này. Người ta gọi nó làsự khổ nội tại và cấu tạo nên tình trạng hiện hữu.Bởi vì mọi chúng sanh đang lưu chuyển đều thấm nhuần cáikhổ này, người ta gọi nó là “nội tại”. “Cấu tạo”chỉ ra rằng nó không chỉ nằm ở nền tảng của khổ đauhiện tại, mà còn khởi dẫn cái khổ sắp đến. Nó là khônglối thoát, trừ khi người ta chấm dứt dòng tái sanh.

Bắtđầu, nên nhận biết ba hình thức khổ não này, biết rằngdanh từ khổ này không độc nhất để chỉ cảm xúc khổ,mà còn chỉ những tiến trình bên ngoài và bên trong chúngxác định cái khổ và cả những trạng thái tâm thức vànhững yếu tố tâm thức đi theo. Đó là tất cả những gìcái khổ bao trùm.

Đâulà những nguyên nhân của nó ? Nó nảy sanh thế nào ? Nó phátxuất từ hai nguồn : nghiệp – hành động – và những phiềnnão. Đó là điều chúng ta học được từ Chân lý cao cảthứ hai về những nguyên nhân thực sự của nó. Nghiệp trảlại những hành động nhiễm ô của thân, ngữ, ý ; nó cóloại tốt, loại không tốt và loại trung tính. Loại tốtkéo theo những kết quả vui hay tích cực ; loại xấu, nhữngkết quả khổ hay tiêu cực.

Baphiền não chính là biết lầm, tham lam và sân hận, từ đóghen ghét, ác cảm và nhiều cái khác phát sanh thêm. Để chấmdứt những hành động làm phát khởi khổ đau, phải làm khôcạn những yếu tố rối loạn là những nguồn sanh sống vàlà những nguyên nhân chính của chúng. Ở giai đoạn này, ngườita tự hỏi : có thể chấm dứt nó không ? Với câu hỏi này,người ta lập tức đi vào trung tâm của Chân lý cao cả thứba, sự thực của sự diệt dứt.

Nếunhững phiền não là nội tại, sẵn có nơi bản tánh củatâm thức, thì chữa lành là vô phương, bởi vì, trong mộtgiả thiết như vậy, sân giận chẳng hạn, sẽ thường hằnghiện hữu nơi chúng ta. Nó chỉ tắt mất với tâm thức chúngta, và cũng thế đối với tham. Rõ ràng không phải như vậy.Điều đó chứng minh rằng bản tánh của tâm thức không bịô nhiễm bởi các khuyết điểm ; vậy thì không có gì ngăncản chúng ta nhổ tuyệt chúng bởi vì chúng thì tách biệtvới tâm thức bổn nguyên.

Hiểnnhiên, những vận động tích cực và những vận động tiêucực không tương hợp với nhau : tình thương và giận dữkhông thể hiện hữu cùng một lúc. Ngay lúc các bạn giậndữ với ai, bạn không cảm thấy tình thương dành cho nó vàngược lại. Đó là dấu hiệu hai trạng thái này của tâmthức ngược lại với nhau, khai trừ lẫn nhau. Khi người tachọn một loại tâm thái nào, những cái khác yếu đi mộtcách hoàn toàn tự nhiên. Thế nên khi người ta gắn bó vớitình thương và lòng tốt, người ta phát triển mặt tích cựccủa tư tưởng, và cái đối ngịch với nó dần biến mất.Đó là những chứng cớ chứng tỏ rằng những nguồn mạchcủa khổ có thể dần dần khô cạn. Sau khi tắt hết mọinguyên nhân của khổ, đó là sự diệt độ thực sự, sựgiải thoát tối hậu, sự thanh bình đích thực miên viễn,sự cứu độ : đó là cái thứ ba của Bốn Chân lý Cao cả.

Đâulà con đường người ta cần mượn, người ta thực hành thếnào để đạt đến đó ? Những bất toàn chủ yếu đếntừ tâm thức chúng ta, cũng chính từ tâm thức mà cái nghịchlại sẽ đến. Vậy thì, nếu quan trọng là khám phá cáchthế hiện hữu rốt ráo của tất cả hiện tượng, thì cáchthế nền tảng tối hậu của tâm thức sẽ là sự quan tâmhàng đầu của chúng ta.

Cầnphải tìm hiểu nó một cách mới mẻ, trực tiếp, hoàn toànvượt khỏi nhị nguyên, giải mã bản tánh rốt ráo của nó,thực sự nó là gì ; đó là điều người ta gọi là Con đườngcủa Cái Thấy (Kiến Đạo vị). Giai đoạn sau, người ta làmquen với cách thức tri giác này, và đó là Con đường củaThiền Định (Tu Tập vị).

Nhưngtrong một thời gian đầu, người ta phải đạt đến chỗlàm an định tâm thức trong một trạng thái định gồm hai,bằng cách kết hợp định tâm và cái thấy xuyên thấu. Trênnguyên tắc, để có được một năng lực mạnh mẽ để thấuhiểu cái thật, cần thiết phải phát triển trước sự anđịnh tâm thức này mà người ta gọi là “định”.

Đâylà những giai đoạn của con đường (Chân Lý Cao Cả thứtư), cho phép thành tựu, hiện thực hóa sự diệt dứt (ChânLý Cao Cả thứ ba) và chấm dứt cho khổ đau và cho nhữngnguồn gốc của chúng (Chân Lý Cao Cả thứ nhất và thứ nhì).Bốn chân lý này cấu thành toàn bộ tư tưởng và thực hànhcủa đạo Phật.

Câuhỏi : Thoạt nhìn, hình như khó hòa giải nguyên lý Phật giáovề sự diệt dứt của ham muốn với tham vọng, được Tâyphương xem như một phẩm tính đi đôi với ham muốn.

Trảlời : Có hai loại ham muốn, một thứ thì phi lý và đầynhững kích thích bi thảm, trong khi nhờ vào cái kia mà cácbạn nhận ra cái gì tốt như là tốt và các bạn cố gắngđạt đến nó. Cái sau thì đáng giá, vả lại chính nhờ nómà người ta đi tìm chân lý dấn thân vào thực hành. Cũngthế, sự tìm kiếm tiến bộ vật chất cho điều tốt đẹpcủa nhân loại là đúng đắn.



Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
10/04/2013(Xem: 5965)
Có một nhà sư rất khiêm tốn, chỉ tự nhận là một người tu hành, một nhà sư Phật giáo mà thôi. Ngài tên là Tenzin Gyatso, sinh năm 1935. Nhưng người ta lại gán cho Ngài cái tước hiệu là Đạt-Lai Lạt-Ma thứ XIV, và Ngài đã nhận giải Nobel Hoà Bình vào tháng 9 năm 1989. Ngài rất yêu thương con người, nhân loại và dân tộc của Ngài.
10/04/2013(Xem: 6136)
Đêm Hy Mã Lạp Sơn vang lên tiếng chó sủa. Ánh sáng lập lòe bên kia sườn đồi. Dưới vòm trời sao, trên lối mòn tăm tối giữa những hàng thông, một nhóm người hành hương trong y phục tả tơi đang bước đi, miệng lẩm bẩm cầu kinh. Ngay trước lúc rạng đông, khi những đỉnh núi tuyết ở phía sau nhuộm màu hồng đậm, đám đông ở bên ngoài ngôi chùa Namgyal ba tầng ở Dharamsala, miền Bắc Ấn Độ, trở nên yên lặng.
10/04/2013(Xem: 12029)
Đức Đạt Lai Lạt Ma 14, tên thật là Tenzin Gyatso, là một nhà lãnh đạo thế quyền và giáo quyền của nhân dân Tây Tạng. Ngài chào đời tại làng Taktser, vùng Đông Bắc Tây Tạng vào ngày 6 tháng 7 năm 1935 (Ất Hợi) trong một gia đình nông dân. Ngài được thừa nhận là Dalai Lama vào năm 2 tuổi theo truyền thống Tây Tạng như là hóa thân của Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 13
10/04/2013(Xem: 7147)
Khi tìm những bài nói về về tương lai Phật giáo hoặc Phật giáo và tuổi trẻ, tôi lấy làm ngạc nhiên vì không dễ kiếm được nhiều bài nói về đề tài phức tạp này để cống hiến cho đọc giả của đặc san. Có lẽ do vì thống kê sinh hoạt Phật pháp không được đầy đủ và nền sinh hoạt tại các chùa không mấy liên quan với nhau. Tìm mãi thì cuối cùng qua internet, tôi đã kiếm được bài: “Phật Giáo Thịnh Suy (The Decline and Development of Buddhism)” do Sư Sayadaw U. Sumana viết.
10/04/2013(Xem: 6747)
Miền Bắc giáp Bangladesh, Ấn Độ, Trung Hoa. Miền đông giáp Lào, Thái Lan. Miền Nam giáp Mã Lai Á và miền Tây giáp với biển Ấn Độ. Một dãi giang sơn trãi dài qua các đồng bằng, núi non và biển cả. Miến Điện có lịch sử hơn 3000 năm tồn tại và phát triển. Ngày xưa Miến Điện được gọi là Bumua và ngày nay là Myanmar.
10/04/2013(Xem: 6357)
Thế kỷ 16, sau khi chấm dứt cuộc chiến tranh nhiều năm khổ nạn giữa các thủ lãnh, sự xuất hiện của Shabdrung- Ngawang- Namgyal (1594- 1651) đã khiến Bhutan thực hiện công cuộc thống nhất toàn quốc.
10/04/2013(Xem: 20129)
Đây là cuốn sách đầu tiên ghi lại lịch sử Phật Giáo ở Úc Châu và ảnh hưởng của Phật Giáo đối với thơ ca, mỹ thuật và đời sống tâm linh của người Úc.
10/04/2013(Xem: 11786)
Hội Từ Thiện Từ Tế (Tzu Chi) dưới sự lãnh đạo của ni sư Chứng Nghiêm, một nữ tu đầy đức độ và khả kính của Phật giáo Đài Loan, đã mở một chiến dịch nhân đạo cứu trợ nạn nhân sóng thần tsumani ở các quốc gia vùng biển Ấn Độ Dương. Hội Từ Tế luôn luôn có mặt tại khắp mọi nơi trên thế giới một cách nhanh chóng và hữu hiệu. Hội này đã cứu trợ khắp mọi nơi từ Châu Á (trong đó có Việt nam), Châu Phi, Châu Mỹ (luôn cả bắc Mỹ).
10/04/2013(Xem: 7122)
Từ thập niên 80 trở lại, Đông phương với trào lưu cải cách mở cửa đã phổ cập khắp các đại lục, khắp nơi đã diễn ra một cách sôi nổi hùng hồn. Cùng với sự nhảy vọt của nền kinh tế, trăm hoa đua nở của văn hóa và sự chuyển hình của xã hội, nhiều bậc đống lương thạch trụ quốc gia mang trong lòng nỗi âu lo và trách nhiệm cao độ, khiến họ có ý thức sâu sắc trong việc tự giác tiến hành, cải cách chấn hưng một nền văn hóa.
10/04/2013(Xem: 6456)
Vào ngày 27-6-2003, Tổ chức Văn Hoá, Xã Hội và Giáo Dục của Liên Hợp Quốc (UNESCO) chính thức liệt Bồ-đề Đạo Tràng vào danh sách Di Tích Văn Hoá Thế Giới (World Heritage Site), đứng hàng thứ 23 trong tổng số các công trình văn hoá tôn giáo ở Ấn-độ. Sự kiện trọng đại này đã làm nức lòng tăng ni và Phật tử trên khắp năm châu bốn biển.