24. Ngày hai mươi bốn

07/05/201311:47(Xem: 11209)
24. Ngày hai mươi bốn

GIẢI THOÁT TRONG LÒNG TAY

Một bài giảng khúc chiết về con đường đạt đến giác ngộ

(Liberation in the Palm of Your Hand-

Aconcise discourse on the path to enlightenment)

Pabongka Rinpoche

Edited by Trijang Rinpoche

Translated by Michael Richards

Thích Nữ Trí Hảidịch

--- o0o ---

PHẦN NĂM

PHẠM VI LỚN

NGÀY HAI MƯƠI BỐN

Phần đầu của ngày được dành để học kinh, cúng bánh lễ, v.v… Sau đây tường thuật về phần thứ hai. Khi Kyabje Pabongka Rinpoche thăng tòa, chúng tôi cử hành một nghi lễ chuẩn bị dài bao gồm những lễ cúng dường v.v… Trong khi chúng tôi dâng một Mandala để xin Bồ tát giới, mỗi khi dâng mandala, những đồ cúng dường tượng trưng này được truyền qua đoàn thể thính giả làm thành một chồng đặt trước mặt bậc thầy. Rinpoche trích dẫn đức Tsongkapa vị pháp vương của ba cõi:

Phát bồ đề tâm là đại lộ

Đưa đến tối thượng thừa…

Ngài còn nhắc lại những lợi lạc của tâm bồ đề và gợi cảm hứng cho chúng tôi bằng cách phác họa con đường tu tập, khởi tập là sự khó được tái sinh thân người. Rồi chúng tôi bắt đầu phép quán. Chúng tôi phải tưởng tượng được vây quanh bởi tất cả hữu tình dưới hình dạng loài người. Tất cả những chúng sinh nam tánh cùng đứng với cha chúng tôi ở bên tranh phải; tất cả chúng sinh nữ tánh gồm cả mẹ chúng tôi ở bên tay trái. Bậc thầy chúng tôi, được quán tưởng thành hình dạng đức Phật Thích Ca, được vây quanh bởi 1000 vị Phật trong thời tiền kiếp may mắn hiện tại, v.v… Với sự hiện diện của những bậc thầy, chư Phật và chư Bồ tát được mời đến, chúng tôi quỳ gối để xin quy y. Ngài nhắc lại bài kệ sau đây 3 lần:

Cho đến ngày giác ngộ con xin quay về nương tựa

Phật pháp và hội chúng vô lượng.

Với công đức con có được nhờ bố thí v.v…

Mong cho con thành Phật quả để lợi lạc hữu tình.

Nói ấy chúng tôi xin lập hình thức phát nguyện của bồ tát (lập bồ đề nguyện) bằng cách đọc như sau 3 lần.

Tôi nguyện đạt giác ngộ

Để giải thoát tất cả hữu tinh

Khỏi những kinh hoàng của sinh tử.

Bây giờ tôi đã lập nguyện này,

Thì tôi sẽ không bao giờ quên mất

Cho đến khi đạt thành Phật quả.

Kế tiếp đến phần chúng tôi thực sự lập cả 2 lời nguyện - phát bồ đề nguỵên và phát bồ đề hạnh, nghĩa là hình thức phát nguyện và hình thức dấn thân trong sự phát tâm bồ đề. Ngài lập lại lời sau đây 3 lần trong đó, trước hết chúng tôi khẩn cầu chư Phật Bồ tát, sau đó lập lời thề nguyện:

Kính lễ các bậc thầy, chư Phật và chư Bồ tát!

Can khẩn cầu các ngài hãy lắng nghe con:

Như chư Phật trong quá khứ

Đã phát lời nguyện sẽ thành Phật

Rồi tuần tự trải qua những sự tu tập của một bồ tát,

Cũng vậy con hôm nay phát tâm bồ đề.

Vì lợi ích cho tất cả chúng sinh, và sẽ tuần tự tu tập

Trong những hạnh bồ tát.

Sau đó chúng tôi đọc một lần bài sau đây để bày tỏ sự vui mừng vì đã thọ giới:

Bây giờ cuộc đời tôi đã có kết quả:

Tôi đã có được thân người thù thắng;

Hôm nay tôi đã được sinh vào

Dòng dõi của chư Phật,

Tôi đã trở thành một pháp tử của Chư Như Lai.

Kyabje Pabongka Rinpoche khi ấy đọc lên vài bài nói về giới bồ tát, và giải thích ý nghĩa. Rồi ngài bảo các đệ tử:

Nếu chúng ta phát tâm bồ đề, thì tất cả cõi Phật trong mười phương đều chấn động, những pháp tòa của chư Phật trong đó và những vật khác đều lung lay. Những tùy tùng của chư Phật sẽ hỏi lý do vì sao có chuyện này, và chư Phật sẽ trả lời cho họ rằng: “Tất cả những việc này xảy ra bởi vì tại xứ Tây Tạng, nơi ẩn cư tịch mịch Chuzang, trước mặt một vị lama tên Taezin Trinlae Gyatso, đệ tử của ông ta có tên là…. đã phát tâm bồ đề.” Các ngài sẽ cầu nguyện cho tâm bồ đề ấy không thối chuyển và nam nữ giới tử sẽ hoàn tất phận sự của bồ tát.

Khi ấy Pabongka Rinpoche nhận được vô lượng công đức nhờ giảng dạy và lắng nghe giáo lý Lam-rim. Hãy xét một cái công đức chúng ta đạt được do phát tâm bồ đề! Để cho công đức chúng ta tích lũy được sẽ không biến mất. Chúng ta sẽ phó thác những công đức ấy cho bậc thầy che chở chúng ta, đức Di Lặc khi ngài đến châu lục này, hiển bày thắng ứng thân và làm những công việc của một đức Phật, thì chúng ta sẽ ở trong số những môn đồ của Đấng Chiến thắng này nhờ năng lực của công đức hôm nay. Chúng ta sẽ thưởng thức vị cam lồ của thời ngài và được ngài thọ ký tương lai sẽ thành Phật. Vậy chúng ta sẽ hồi hướng công đức cho mục tiêu này. Sau khi lập lại lần thứ 3 bài tụng hồi hướng, tôi sẽ dâng đồ cúng của quý vị lên hư không. Tất cả quý vị phải quán tưởng rằng những đồ cúng này chính là công đức của quý vị dưới hình dạng tám hướng tốt lành, bảy dấu hiệu của chuyển luân vương, v.v… Hãy tưởng tượng những đồ cúng này sẽ đậu lại trên cõi trời Đâu Suất xung quanh đức Di Lặc, ngài sẽ nói: “Những công đức này khiến ta hoan hỷ” và ngài cầu nguyện cho quý vị.

Sau đó ngài hướng dẫn chúng tôi lập lại 3 lần lời kệ sau đây:

Khi vừng thái dương Di Lặc đại hùng

Lên trên đỉnh đồi ở Bồ đề tràng,

Mong sao đóa sen trí tuệ con bừng nở;

Mong sao vô số hữu tình được toại ý.

Mong sao đức Di Lặc, Đấng Chiến thắng

Sẽ hoan hỷ đặt tay lên đầu con,

Thọ ký cho con thành bồ đề vô thượng.

Mong sao con sớm đạt giác ngộ

Vì lợi lạc cho tất cả hữu tình.

Sau khi lập lại lần thứ ba, ngài dâng cao đồ cúng lên hư không.

b-2. Làm thế nào để bồ đề không thối chuyển

Có hai loạt lời khuyên

1. Lời khuyên liên hệ đến Bồ đề nguyện.

2. Lời khuyên liên hệ đến bồ đề hạnh.

b-2.1. Lời khuyên liên hệ đến bồ đề nguyện

1. Khuyên tạo nhân lành để giữ tâm bồ đề đã phát khỏi thối chuyển trong đời này.

2. Lời khuyên tạo nhân để không bao giờ rời tâm bồ đề đã phát khởi trong những tái sinh còn lại.

b-2.1.1. Lời khuyên tạo nhân lành để giữ cho tâm bồ đề đã phá khỏi thối chuyển, trong đời này

Có 4 mục như sau:

(1) Nhớ lại lợi lạc của sự phát tâm bồ đề.

(2) Lập lại lời nguyện ba lần mỗi ngày và 3 lần mỗi đêm để khỏi quên bồ đề tâm đã phát, và đông thời tăng trưởng nó.

(3) Ngăn ngừa sự phát sinh ý xấu, như là khi người nào làm trái ý bạn, bạn lạinghĩ “Tôi sẽ không làm việc vì lợi ích cho hắn.”

(4) Xây dựng hai thứ tích lũy của bạn để tăng trưởng bồ đề tâm đã phát.

b-2.1.2. Lời khuyên tạo nhân lành để không bao giờ rời tâm bồ đề trong những đời tái sinh còn lại.

Có hai đoạn:

(i) Bốn hành vi phát sinh hắc nghiệp báo cần từ bỏ. Đó là:

(1) Cố lừa thầy dạy, bổn sư, tu viện trưởng, thầy tuyền giới… với những lời dối trá.

(2) Cảm thấy buồn bã khi thấy người khác làm việc công đức.

(3) Vì sân giận mà nói những lời khiếm nhã đối với Bồ tát.

(4) Có hành vi lừa dối, không có tâm vị tha.

(ii) Bốn hành vi phát sinh bạch nghiệp báo cần làm:

(1) Tinh tấn từ bỏ mọi sự nói láo cố ý

(2) Giữ thiện chí đối với hữu tình, không lừa dối chúng sinh.

(3) Có thái độ xem bồ tát như bậc thầy, ca tụng họ.

(4) Khiến cho các hữu tình được bạn săn sóc phải tôn trọng tâm bồ đề.

b-2.2. Lời khuyên liên hệ đến bồ đề hạnh

Kyabje Pabongka Rinpoche nói chi tiết về sự cần thiết phải học tập để giữ giới bồ tát đã thọ một cách nghiêm túc, làm thế nào để không ô nhiễm bất cứ giới nào trong mười tám giới trọng hay 46 giới khinh. Rồi ngài tiếp tục:

Mặc dù tôi đã dạy quý vị con đường đưa đến giải thoát,

Hãy biết rằng sự giải thoát của bạn tùy thuộc vào chính bạn.

Hãy tu tập bất cứ pháp nào bạn có thể tu, để sự giảng dạy của tôi không phải là uổng công. Cũng như những thương gia chở hàng lên lên con lừa ngựa v.v… vừa sức chở của chúng, mỗi người trong các bạn ít nhất của phải thực hành tùy theo giới hạn và khả năng của mình, vì có người có tâm trí thù thắng, người khác kém hơn, trong khi những người khác có tâm trí hạ liệt. Nhưng trên tất cả phải lấy bồ đề tâm làm pháp tu chính yếu của bạn. Bạn phải theo bất cứ đề mục thiền quán nào mà bạn biết sẽ giúp cho bồ đề tâm của mình.

Trước hết bạn nên tận tụy với một bậc thầy và thực hành những chỉ giáo của vị ấy. Rồi phát tâm mong muốn rút tỉa được một vài ý nghĩa từ cuộc đời bạn. Nếu bạn không rút tỉa được tinh hoa ấy ngay từ bây giờ thì chắc chắn rằng sau khi bạn chết sẽ không thể chọn lựa chỗ tái sinh. Nếu bạn tái sinh vào đọa xứ thì bạn sẽ khổ không thể chịu nổi. Bởi thế bạn phải tìm cách nào cứu bạn khỏi điều này: tái sinh vào các đọa xứ. Hãy quan sát kỹ điều này, và chắc chắn bạn sẽ muốn được giải thoát khỏi sinh tử luân hồi. Nhưng một mình bạn được giải thoát chưa đủ, vì tất cả hữu tình không ai khác hơn là cha mẹ bà con của bạn. Thật đáng khinh bỉ xiết bao nếu bạn ruồng bỏ họ. Vậy một mình bạn giải thoát khỏi sinh tử thì không đủ.

Như thế điều thích hợp là bạn đi vào đại thừa ngay bây giờ bởi vì trước sau gì bạn cũng phải đi con đường ấy. Cổng vào Đại thừa duy nhất là phát bồ đề tâm, bởi thế bạn phải nỗ lực tìm cách phát tâm bồ đề. Nếu bạn có thể cảm thấy không cần nỗ lực mà vẫn có bồ đề tâm thì khi ấy bạn có thể một mình chịu đựng lâu dài những khó nhọc trong khi làm việc cho tất cả hữu tình. Tuy nhiên bạn sẽ thấy thật là điều khó chịu khi tất cả hữu tình, những bà mẹ của bạn, đang bị đau khổ dày xéo. Đây là loại bồ đề tâm đặc biệt sẽ làm cho bạn muốn đi vào con đường mật tông, tối thượng thừa. Như vậy bạn sẽ nhận bốn pháp quán đảnh từ một bậc thầy Kim Cương đầy đủ tư cách, để đi đến chỗ thuần thục; và theo cách ấy bạn thực sự đạt đến mọt sự cận hành của hợp nhất, sự phối hợp giữa ánh sáng và thân huyễn. Để thuần thục hơn, nghĩa là để đạt đến sự hợp nhất thực sự, bạn phải thiền quán giai đoạn phát sinh cũng như giai đoạn thành tựu. Qua những giai đoạn này, bạn chắc chắn sẽ đạt đến trạng thái hợp nhất của bậc Vô Học chỉ trong một đời ngắn ngủi vào thời đại suy đồi này.

Muốn thành tựu điều này, trước giai đoạn hợp nhất thực sự, bạn phải đạt đến cận hành của giai đoạn hợp nhất, cùng với những giai đoạn tịnh và bất tịnh của thân huyễn. Nhưng muốn đủ thuần thục để làm việc này, thì chắc chắn bạn phải hoàn toàn phát triển trong những cấp độ thô của giai đoạn phát sinh, và trước đấy bạn phải được bốn sự quán đảnh để gieo trồng trong bạn những hạt giống của bốn thân. Nhưng để trở thành một pháp khí thích hợp để nhận những phép quán đảnh này thì trước hết bạn phải thanh lọc dòng tâm ý bằng bồ đề tâm - một phần của đạo lộ không chung với Thanh văn thừa. Vậy bạn phải có những nguyên nhân đẻ phát bồ đề tâm như sau: có quá nhiều tâm bi mẫn không chịu nỗi sự đau khổ của hữu tình. Nguyên nhân chính để phát tâm bi mẫn là bạn không thể chịu đựng những nỗi khổ tổng quát và đặc biệt của sinh tử mà chính bạn đã trải qua. Điều này sẽ thúc đẩy bạn từ bỏ sinh tử. Nhưng trước đấy bạn phải phát sinh nỗi sợ hãi và kinh hoáng đối với những thống khổ trong các đọa xứ. Và làm sao bạn có thể triển khai những điều này nếu trước đó bạn không quan sát luật nhân quả và nỗi bấp bênh mà bạn sẽ phải đương đầu sau khi chết? Bạn phải triển khai những điều này. Cái nguyên nhân duy nhất khiến bạn nghĩ đến việc khởi hành trên một con đường như vậy chính là quán sát thân người khó được và hoàn toàn có ý nghĩa. Và muốn triển khai tất cả những điều này, thì trước hết bạn phải tận tụy vói một bậc thầy có đức hạnh bằng tư tưởng và hành vi của bạn.

Như vậy bạn không đạt đến ngay những trình độ cao. Bạn phải luyện tâm bằng cách nghiên cứu toàn thể tiến trình của đạo lộ, bước đầu bằng sự thờ kính thầy. “Nghiên cứu sơ đồ của đạo lộ” có nghĩa là bạn học một đề mục thiền đặc biệt nào đó một thời gian, để làm cho bạn cảm thấy “tôi đã triển khai thực chứng trong dòng tâm thức.” Như thế bạn hãy đi suốt con đường qua những đề mục ấy khởi đầu bằng khởi điểm của Lam-rim là nhờ thầy đúng cách.. Hãy cố phát triển tuệ quán trong từng đề mục thiền. Sau khi làm như vậy, hãy luyện tập thêm nhờ thiền định phản quang. Nhưng hãy cố phát sinh tuệ giác bằng cách luyện tập bất cứ đề mục nào mà bạn chưa nắm vững được.

Trong đời này chúng ta dã gặp những giáo lý vô cấu này trong cả kinh điển lẫn mật điển không lỗi lầm. Với một cơ may như thế, mà nếu bạn không phát sinh ngay cả một ước muốn đối với mật điển thì thật là đáng tiếc. Làm sao bạn có thể thực hành những thiền định phản quan vào các giai đoạn phát sinh và thành tựu của mật điển về một vị thần bảo hộ như Guhyasanmàja, Heruka hay Yamàntaka? Hãy làm một người làm những pháp thiền định phản quan về tất cả giáo lý! Đây sẽ là một sự tu tập toàn diện.

Nếu bạn đã có thể triển khai được tuệ quán gượng ép vào các đề mục cho đến bồ đề tâm, thì bạn nên đi trở lui lại từ đầu; bây giờ bạn sẽ đạt được tuệ quán một cách không khó khăn vào mỗi một đề tài ấy. Cách làm việc xuyên qua suốt đạo lộ này cũng giống như du hành trên một con đường nhiều lần cùng một hướng. Trước hết hãy triển khai tuệ quán vào các đề mục đưa đến tâm bồ đề bằng cách ấy, và sau đó hãy làm nỗ lực thêm ở từng giai đoạn của đạo lộ bằng các mật điển. Nếu làm như vậy bạn sẽ phát triển những thực chứng phi thường trong dòng tâm thức. Đây là lời tuyên bố được tìm thấy trong các mật điển và những kiệt tác cũng những hành giả vĩ đại. Và cũng như bậc thánh Ensapa và môn đệ, chẳng bao lâu bạn cũng sẽ có thể thể hiện trạng thái Kim cương trì, sự hợp nhất, trong một đời ngắn ngủi vào thời đại suy đồi này.

Bây giờ chúng ta nên cầu nguyện ta sẽ hướng dẫn 6 loài chúng sinh cùng tận biên giới của hư không, đến quả vị Phật vô song, và chúng ta sẽ làm lắng dịu những thống khổ của chúng; và vì lý do đó mà ta sẽ phát triển tâm bồ đề, hành hạnh bồ tát. Chúng ta hãy tụng bài nguyện sau cùng trong tác phẩm Hành Bồ Tát Hạnh. Đây không phải là pháp hành của bậc tôn sư tôi,nhưng gần như đây là điều mà những vị giữ ngai tu viện Ganden và môn đệ họ đều đã làm. Đây cũng đủ lý do khiến chúng ta làm sống lại tập tục này. Yêu cầu quý vị hãy tụng bài ấy với tâm không phân tán.

[Khi ấy ngài hướng dẫn chúng tôi tụng bài hồi hướng rút ra từ tác phẩm Hành Bồ Tát Hạnh.Chúng tôi dâng một mandala để tạ ơn được thụ giáo, và làm những cầu nguyện tiếp theo, những bài kệ cầu được điềm lành v.v..., điều này phù hợp với truyền thống Lam-rim, tinh túy của toàn thể nền giáo lý.ngài dã từ bi biết bao khi xua tan bóng tối khổng lồ của chúng tôi liên hệ đến 3 cõi. Lòng từ bi này vẫn còn mãi cho đến tận cùng thời gian.]

--- o0o ---

Vi tính: Nguyên Trang. Trình bày: Nhị Tường

Cập nhật: 1-12-200

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
11/01/2022(Xem: 5137)
Đại học Tăng già Phật giáo Vientiane (Sangha College in Vientiane, Laos) được thành lập vào năm 1929 (PL.2472), do Vương thân Phetsarath Rattanavongsa (1890-1959) và Trưởng lão Hòa thượng Somdet Phra oukeo Outhen Sakda, Tăng thống Vương quốc Phật giáo Lào và Thống đốc Vientiane kiến lập.
08/01/2022(Xem: 6833)
Đại học Phật giáo Nālandā Malaysia -Giáo dục toàn diện, Phát triển Con người toàn diện" (Nālandā Institute Malaysia -Holistic Education for Integral Human Development). Đại học Phật giáo Nālandā Malaysia (NIM) đã được hình thành vào tháng 01 năm 2006, nhằm đáp ứng nhu cầu của cộng đồng Phật giáo, để có một cơ sở giáo dục Phật giáo tại Malaysia. Cố vấn tinh thần cho Hội Phật giáo Nālandā, Hòa thượng Tiến sĩ Kirinde Sri Dhammananda Nayaka Thera đáng kinh, đã cho thấy sự ủng hộ rõ ràng với ý tưởng của Ngài.
08/01/2022(Xem: 9418)
Taxila: Trong một cuộc khai quật một Bảo tháp Phật giáo tại Ban Faqiran, nhà Khảo cổ học của Bộ Liên bang Khảo cổ học đã phát hiện đồ cổ quý hiếm, trong đó có một đồng xu bằng đồng từ thời Vương triều Mughal, một đế quốc Hồi giáo (chịu ảnh hưởng từ nền văn hoá Ba Tư) ở Tiểu lục địa Ấn Độ đã ra đời vào năm 1526, nắm quyền kiểm soát trên phần lớn tiểu lục địa trong các thế kỷ 17 và 18, và cáo chung vào giữa thế kỷ 19.
08/01/2022(Xem: 5671)
Ung Chính lên ngôi lấy hiệu "Thuận Trị Hoàng đế, 順治皇帝" từ nhỏ đã thích đọc kinh sách Phật giáo, quảng giao tăng chúng, tinh thông Phật lý. Vua học thiền với Quốc sư Chương Gia, được hướng dẫn Thiền tọa liên tục trong hai ngày, đương thời Quốc sư Chương Gia (章嘉國師) khen ngợi vua có Chủng Tính Tối Thượng Thừa, khuyến khích bế quan nhập Thất Thiền tu, 14 ngày đêm miên mật tham cứu công án thoại đầu...
08/01/2022(Xem: 9722)
Bengal cổ đại là một trung tâm chính của Phật học, nghệ thuật và chủ nghĩa đế quốc; quả thực, đạo Phật là nền tảng của di sản văn hóa và ngôn ngữ của Bengal - bài thơ đầu tiên ở Bengali là Charyapada, được sáng tác bởi Chư tôn thiền đức Tăng già Phật giáo thời bấy giờ. Các Charyapada là tập hợp các bài thơ Thần kỳ, những bài tán thán sự chứng ngộ trong Kim Cương thừa truyền thống của Phật giáo mật tông ở các nơi Assam, Bengal, Bihar và Orissa. Theo các học giả đương đại, thuật ngữ Dharma trong tiếng Bengal có nghĩa là "Bauddha Dharma" (Buddhadharma) hoặc Phật pháp (佛法) và thuật ngữ Dharmapuja có nghĩa là "Buddhapuja". Khi Phật giáo bắt đầu suy tàn ở nhiều nơi khác nhau của Ấn Độ, nơi trú ẩn cuối cùng của Phật giáo là ở Bengal.
08/01/2022(Xem: 11906)
Các trung tâm giáo dục Phật giáo ở Ấn Độ và Sri Lanka như Đại học Phật giáo Nālanda và Đại học Phật giáo Mahāvihāra đã đem lại một nguồn năng lượng trong sự nghiệp giáo dục tuyệt vời. Không chỉ duy trì mạng mạch Phật giáo, các trung tâm giáo dục Phật giáo còn tạo ra một xã hội hòa bình ở hầu hết các quốc gia châu Á trong hơn 25 thế kỷ qua.
06/01/2022(Xem: 12716)
Vương quốc Phật giáo Bhutan là quốc gia duy nhất đặt hạnh phúc vào cốt lõi cấu trúc chính sách công. “Tổng Hạnh phúc quốc gia” (GNH) không chỉ mang tính kế thừa ấm áp trong ánh dương trí tuệ và tươi mát, trong suối nguồn từ bi Phật giáo; mà còn là tiêu chí không thể thiếu đối với an ninh văn hóa, và chính trị của quốc gia.
06/01/2022(Xem: 19558)
Phong trào Thanh niên Hồi giáo Malaysia hay Angkatan Belia Islam Malaysia (ABIM) đã cung thỉnh nhà lãnh đạo tinh thần lưu vong của Tây Tạng, Đức Đạt Lai Lạt Ma tham gia diễn đàn về các vấn đề biến đổi khí hậu tại một cuộc đối thoại được tổ chức từ ngày 15 đến 16 tháng 1 năm 2022, theo đưa tin từ thestar.com.my ngày 3 tháng 1 vừa qua. Ngài sẽ cùng tham gia với các học giả đa ngành nổi tiếng trong các lĩnh vực nghiên cứu Hồi giáo, Phật giáo, đạo đức sinh học và khoa học môi trường.
06/01/2022(Xem: 6202)
Tổng công ty phát triển du lịch Telangana (Telangana Tourism Development Corporation), có trụ sở tại bang Telangana, miền trung Ấn Độ đã công bố kế hoạch cập nhật trong việc phát triển Sriparvatarama hay Buddhavanam – công viên chủ đề di sản Phật giáo, công viên chủ đề Phật giáo đầu tiên ở Ấn Độ với những tổ hợp miêu tả các sự kiện lớn trong cuộc đời Đức Phật cũng như các câu chuyện tiền thân Đức Phật. Buddhavanam tọa lạc tại Nagarjunasagar cách Hyderbad khoảng 159 km về phía đông nam, đã tiết lộ một kho tàng di tích Phật giáo cổ đại, dự kiến mở cửa sớm, mặc dù ngày khánh thành vẫn chưa được công bố.
04/01/2022(Xem: 15067)
Đại Bảo tháp tại Sanchi được kiến tạo vào thời trị vì của vị minh quân thánh triết Ashoka, nhân vật vĩ đại trong lịch sử của Ấn Độ, vị vua Phật tử hộ trì chính pháp Phật đà, người đã có công trải rộng và phát triển giáo pháp đức Phật trong suốt những năm ông ta trị vì; và luôn luôn mong mỏi được truyền bá khắp 5 Châu 4 bể. Một cấu trúc vòm bằng gạch, được xây dựng theo kiểu mẫu vũ trụ Phật giáo. Xuyên qua tam vòng tròn là một cột trụ vươn lên, qua đỉnh vòm, tượng trưng cho cột đỡ vũ trụ. Trên cùng của nó là 3 đĩa tròn, biểu thị Tam bảo (ba ngôi báu, Phật, Pháp, Tăng), được xem là một trong những khu kiến trúc bằng đá cổ nhất Ấn Độ, những di tích Phật giáo tại Sanchi là những miêu tả kinh điển cho nghệ thuật và kiến trúc của triều đại Maurya dưới hình thức Bảo tháp (Stupa), những ngôi tự viện linh thiêng của đạo Phật.