Tán Thán Công Hạnh Tôn Sư

05/03/202614:05(Xem: 714)
Tán Thán Công Hạnh Tôn Sư

ht nhu tin-4
讚歎功行尊師

尊師如信歷多年,
精進修行志願堅。
暮鼓晨鐘培妙行,
朝經夕偈結真禪。
戒香定靜開方便,
法派周流度有緣。
祝聖承當宗永振,
興隆石柱淨心源。
心源廣照義恩傳,
一鉢三衣般若宣。
祖印重光歸本願,
佛音啟道向真圓。
玄奘善脈和華德,
慧發賢機會福天。
悟旨隨時離妄念,
無常滿願寂安然

Tán Thán Công Hạnh Tôn Sư
-Thành kính hướng về Giác Linh Đường đảnh lễ tưởng niệm
Giác Linh Trưởng Lão Tân Viên Tịch thượng Như hạ Tín, Kính nguyện Giáo Linh Hoà Thượng Cao Đăng Phật Quốc.
-Thành kính phân ưu cùng môn đồ pháp quyến.


Tôn sư Như Tín lịch đa niên,
Tinh tấn tu hành chí nguyện kiên.
Mộ cổ thần chung bồi diệu hạnh,
Triêu kinh tịch kệ kết chân thiền.

Giới hương định tĩnh khai phương tiện,
Pháp phái châu lưu độ hữu duyên.
Chúc Thánh thừa đương tông vĩnh chấn,
Hưng Long thạch trụ tịnh tâm nguyên.

Tâm nguyên quảng chiếu nghĩa ân truyền,
Nhất bát tam y Bát nhã tuyên.
Tổ ấn trùng quang quy bản nguyện,
Phật âm khải đạo hướng chân viên.

Huyền Trang thiện mạch hòa hoa đức,
Huệ Phát hiền cơ hội phước thiên.
Ngộ chỉ tùy thời ly vọng niệm,
Vô thường mãn nguyện tịch an nhiên.


Dịch thơ:

Ca Ngợi Công Hạnh Tôn Sư

Tôn sư Như Tín trải nhiều năm
Tinh tấn tu hành nguyện vững chăm
Trống tối chuông mai vun hạnh đẹp
Kinh khuya kệ tối kết thiền chân
Giới hương định tỉnh bày phương tiện
Pháp phái lưu truyền độ chúng nhân
Chúc Thánh thừa đương tông vững mạnh
Hưng Long thạch trụ tịnh nguồn tâm.

Nguồn tâm tỏa rạng pháp âm truyền
Một bát ba y Bát Nhã tuyên
Tổ ấn quang ngời về bản nguyện
Phật âm đạo mở hướng chơn viên
Huyền Trang mạch thiện hòa hoa đức
Huệ Phát cơ hiền hội phước thiên
Tỏ ngộ tuỳ thời lìa vọng niệm
Vô thường nguyện mãn tịch an nhiên..!

Nam Mô Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật 

Nam mô Lâm Tế Tông, Chúc Thánh Pháp Phái Đệ Bát Thế, Trùng Kiến Hưng Long Tổ Đình Trụ Trì,
Húy thượng NHƯ hạ TÍN, Tự GIẢI TẤN, Hiệu HUỆ PHÁT Huỳnh Công Hòa thượng Giác Linh Tân Viên Tịch Thùy Từ Chứng Giám.

Tu Viện An Lạc, California, 1:30 sáng, 17 Tháng giêng, Bính Ngọ-2026
Hậu Học-Thích Chúc Hiền ( Khể thủ kính ghi)





Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
04/08/2011(Xem: 8821)
Hòa thượng Thích Bích Lâm, nguyên Phó Viện trưởng Viện Hoằng đạo, Giáo hội Phật giáo Cổ truyền Việt Nam; nguyên Chánh Đại Diện GHPGCT Trung phần, Tổ thứ 3 Tổ đình Nghĩa Phương, Tổ Khai sơn các chùa thuộc Tông phong Tổ đình Nghĩa Phương, Tông trưởng Tông phong Tổ đình Nghĩa Phương (1921 - 1972).
30/07/2011(Xem: 10080)
Thế danh: Nguyễn Đình Mân, Pháp danh: Thị Uẩn, Pháp tự: Hạnh Đạo, Pháp hiệu: Thuần Phong, Đời thứ 42 thuộc dòng Thiền Lâm Tế.
28/07/2011(Xem: 8610)
Hòa Thượng Thích Đạt Hảo, Hòa thượng Thích Đạt Hảo thế danh Lê Văn Bân, pháp danh Tánh Tướng, pháp hiệu Đạt Hảo, sanh năm Đinh Tỵ (1917), tại ấp Bình Hữu, xã Đức Hòa Thượng, huyện Đức Hòa, tỉnh Gia Định (1). Sư là con út trong gia đình có 6 anh chị em, 2 người trai bốn người gái; đặc biệt cả nhà có 8 người đều lần lượt xuất gia tu hành: -Phụ thân Lê Văn Bộn (1876- 1943), pháp danh Tánh Từ, pháp hiệu Đạt Bi. -Mẫu thân Ngô Thị Cờ (1884-1941), pháp danh Tánh Niệm, pháp hiệu Đạt Phật. -Chị thứ 2 Lê Thị Tình (1901-1970), pháp danh Tánh Hóa, pháp hiệu Đạt Đạo. -Chị thứ 3 Lê Thị Ưa (1904- ?) pháp danh Tánh Viên, pháp hiệu Đạt Thông. -Chị thứ 4: Lê Thị Luận (1907- ?), pháp danh Tánh Minh, pháp hiệu Đạt Quang. Chị thứ 5 Lê Thị Nghị (1909- ?), pháp danh Tánh Hồng, pháp hiệu Đạt Tâm -Anh thứ 6 Lê Văn Kỉnh (1915-1962), pháp danh Tánh Kỉnh, Pháp hiệu Đạt Xương. -Em út là Hòa thượng Thích Đạt Hảo.
15/07/2011(Xem: 9267)
Thiền sư húy thượng NGUYÊN hạ BÀNG - ĐẠI NGUYỆN tự CHÍ NĂNG hiệu GIÁC HOÀNG , thế danh LÊ BẢN, sinh năm Canh Dần 1950, tại thôn An Ngãi, xã Nhơn An huyện An Nhơn tỉnh Bình Định. Ngài sinh trong một gia đình nhiều đời sùng kính Tam Bảo. Thân phụ: Cụ ông LÊ TRÀ, thân mẫu: Cụ Bà TRẦN THỊ TÁM. Ngài là anh cả trong gia đình gồm có năm người con.
24/06/2011(Xem: 9503)
Vua Lê Đại Hành mất vào năm 1005, các hoàng tử tranh giành ngôi vua tạo nên cảnh khổ đau tràn ngập cho Dân Tộc, bên trong bị nội loạn, bên ngoài bị ngoại xâm đe dọa. Trước những thảm trạng đen tối u ám và đầy dẫy những thống hận đó, Vạn Hạnh thiền sư xuất hiện như một thứ ánh sáng phi thường quét sạch vùng trời giông tố để đưa vận nước bước vào thời đại huy hoàng thịnh trị.
24/06/2011(Xem: 9024)
Trận chiến thắng Bạch Đằng của Ngô Vương Quyền năm 939 là một dấu mốc quan trọng trong lịch sử dựng nước của Việt Nam. Ngọn sóng Bạch Đằng Giang đã cuốn trôi đi nỗi đau nhục của người dân nô lệ, nhận chìm tham vọng của nòi Hán áp đặt lên đất nước ta trong suốt một ngàn năm. Từ đây Việt Nam không còn là một huyện lỵ của người Hán, từ đây một quốc gia đúng nghĩa đã xuất hiện dưới vòm trời Đông Á.
24/06/2011(Xem: 11275)
Ngài họ Nguyễn húy là Hữu Kê, dòng họ của Đại thần Nguyễn Trãi. Nguyên quán thuộc Tông sơn Gia miêu Ngoại trang, tỉnh Thanh Hóa. Ngài thọ sanh năm Nhâm Tý (1912), tại làng Nguyệt Biều, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên. Vốn thọ sanh trong gia đình vọng tộc, quý phái, thích lý luận Nguyễn Hữu Độ.
24/06/2011(Xem: 8033)
Ngài Mật Thể, pháp danh Tâm Nhất, pháp tự Mật Thể, tên thật là Nguyễn Hữu Kê, sinh năm 1912 ở làng Nguyệt Biều, quận Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên. Chánh quán huyện Tống Sơn, Gia Miêu ngoại trang, tỉnh Thanh Hóa, thuộc dòng Thích Lý của Cụ Nguyễn Hữu Độ. Gia đình Ngài qui hướng đạo Phật, cụ thân sinh và người anh ruột đều xuất gia.
23/06/2011(Xem: 8841)
Đọc Thánh Đăng Ngữ Lục, do Sa môn Tánh Quảng, Thích Điều Điều đề tựa trùng khắc, tái bản năm 1750, ta thấy đời Trần có năm nhà vua ngoài việc chăn dân, họ còn học Phật, tu tập và đạt được yếu chỉ của thiền, như vua Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Anh Tông và Trần Minh Tông. Và sự chứng ngộ của các Thiền sư đời Trần thì không thấy đề cập ở sách ấy, hoặc có đề cập ở những tư liệu khác mà hiện nay ta chưa phát hiện được, hoặc phát hiện thì cũng phải tra cứu và luận chứng dài dòng rồi mới kết đoán ra được.
23/06/2011(Xem: 9529)
Đọc sử Phật giáo Việt Nam, hẳn chúng ta đều biết nước mình có một ông vua đi tu ngộ đạo, đó là vua Trần Nhân Tông. Ngài làm vua trong thời gian nước nhà đang bị quân Mông Cổ đem đại quân sang xâm lấn nước ta lần thứ ba.