Tiểu sử Trưởng lão Hòa thượng Thích Từ Thông (1928-2025)

10/25/202508:44(View: 1588)
Tiểu sử Trưởng lão Hòa thượng Thích Từ Thông (1928-2025)


HT Thich Tu Thong-28

Tiểu sử
Trưởng lão Hòa thượng Thích Từ Thông (1928-2025)




Trưởng lão Hòa thượng Thích Từ Thông
- Thành viên Hội đồng Chứng minh GHPGVN;

- Chứng minh Ban Trị sự GHPGVN TP.HCM;

- Hiệu trưởng Trường Cao - Trung cấp Phật học TP.HCM;

- Nguyên Ủy viên Hội đồng Trị sự GHPGVN;

- Nguyên Phó ban Trị sự kiêm Trưởng ban Giáo dục Tăng Ni TP.HCM;

- Viện chủ chùa Phù Châu, tỉnh Đồng Tháp; Liễu Liễu đường, tỉnh Lâm Đồng.


Thân thế

Trưởng lão Hòa thượng, họ Nguyễn, húy Văn Sáu, sinh ngày mùng 1-4-Mậu Thìn (1928) tại làng Đông Hòa Hiệp, huyện Cái Bè, tỉnh Định Tường (trước đây là thị trấn Cái Bè, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang; nay là xã Cái Bè, tỉnh Đồng Tháp); Thân phụ là cụ ông Nguyễn Văn Giai, pháp danh Từ Hóa, thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Thoại. Ngài xuất thân trong một gia đình Nho học, phúc hậu, nề nếp gia phong thuận hòa, tín mộ Phật pháp.




ht tu thong-2
Trưởng lão Hòa thượng Thích Từ Thông lúc là thanh niên Tăng



Thời kỳ xuất gia tu học

Với túc duyên sâu dày nhiều đời, thuở ấu thời ngài sớm có tâm lành hướng Phật; vốn sẵn tánh mẫn tiệp, thông minh, lại thường theo mẹ về chùa lễ Phật, bái sám hồng danh, dần dần hun đúc duyên lành xuất gia.

Năm 19 tuổi, Trưởng lão Hòa thượng được song thân cho phép xuất gia đầu Phật vào ngày rằm tháng Tư năm Đinh Hợi (1947) tại chùa Phù Châu, huyện Cái Bè, tỉnh Định Tường (nay là tỉnh Đồng Tháp), được Bổn sư là Hòa thượng Hồng Tường ban pháp danh Nhựt Thuần.

Sau khi được thế phát, với tâm chí cầu học, ngày 27-4-Mậu Tý (1948), ngài theo Hòa thượng Bổn sư lên Sài Gòn đến chùa Kỳ Lân (nay là chùa Long An, đường Nguyễn Văn Cừ, TP.HCM) do Hòa thượng Pháp Nhạc trụ trì. Tại đây, Hòa thượng Bửu Thiền, huynh đệ đồng môn với Hòa thượng Bổn sư, nhận thấy ngài có tư chất thông minh, nên đã ban cho pháp hiệu là Từ Thông.


Sáng ngày 28-4-1948, Hòa thượng Bửu Thiền cùng Hòa thượng Bổn sư dẫn ngài đến xin nhập học tại Phật học đường Sùng Đức, do Hòa thượng Huyền Dung làm Giám đốc kiêm Giáo thọ.

Năm 1949, Ban Giám đốc Liên Hải Phật học đường khai mở Đại Giới đàn truyền trao giới pháp cho Tăng sinh các Phật học đường Liên Hải, Mai Sơn, Sùng Đức, Ứng Quang. Được sự chấp thuận của Bổn sư và Ban Giám đốc, ngài thọ giới tại Đại Giới đàn này; Đại lão Hòa thượng Thích Trí Tịnh - Giám đốc Phật học đường Liên Hải lúc bấy giờ làm Hòa thượng Đường đầu.

Năm 1950, sau 8 năm tầm học tại Huế và Hà Nội, Hòa thượng Thích Thiện Hòa trở về Nam hành đạo, chủ trương hợp nhất bốn Phật học đường Liên Hải, Mai Sơn, Sùng Đức, Ứng Quang thành Phật học đường Nam Việt – chùa Ấn Quang.

Sang năm 1951, tất cả học Tăng các lớp Sơ đẳng chính thức chuyển về Phật học đường Nam Việt. Trưởng lão Hòa thượng tiếp tục theo học, lần lượt hoàn tất chương trình Trung đẳng và Cao đẳng Phật học, mãn khóa vào năm 1958, dưới sự hướng dẫn của Hòa thượng Giám đốc Thích Thiện Hòa, Hòa thượng Đốc giáo Thích Thiện Hoa và Hòa thượng Giáo thọ Thích Trí Tịnh.


ht tu thong

Trưởng lão Hòa thượng Thích Từ Thông với các đồng đạo Thiền Định, Huyền Vi, Thanh Từ thời thanh niên Tăng




Quá trình hành đạo

Sau khi tốt nghiệp Cao đẳng Phật học, Trưởng lão Hòa thượng được Ban Giám đốc và Giáo hội Tăng-già Nam Việt cử vào Giảng sư đoàn cùng quý Hòa thượng Thanh Từ, Huyền Vi, Chánh Tiến… đi giảng dạy Phật pháp khắp các tỉnh miền Đông và miền Tây Nam Bộ.

Năm 1961, nhân lần đi hoằng pháp ở Trà Vinh, ngài nhận thấy cơ sở Phật học đường Lưỡng Xuyên cũ còn có thể sử dụng được, nên đã xin Ban Giám đốc và Giáo hội mở lớp Sơ đẳng Phật học. Trong hai năm, ngài đảm nhiệm Giám đốc, cùng hợp tác với Hòa thượng Liễu Minh điều hành. Lớp học hoạt động đến năm 1963, do Pháp nạn, sau mãn khóa thì cũng tạm dừng.

Sau Pháp nạn 1963, ngày 4-1-1964, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất thành lập, ngài về Huỳnh Mai tịnh thất (đường Vũ Tùng, Q.Bình Thạnh cũ) để chuyên tâm nghiên cứu, giảng dạy tiếp tục trong giai đoạn mới.

Trong thời gian này, Trưởng lão Hòa thượng đã tiếp tục đóng góp cho công tác giáo dục và hoằng pháp như: Giám viện Phật học viện Linh Sơn (Cầu Muối, Q.1, Sài Gòn); Giám học Phật học viện Huệ Quang (chùa Huỳnh Kim, Gò Vấp, Gia Định); Giám học Phật học viện Phổ Quang (Phú Nhuận, Gia Định)…


Đồng thời, ngài còn tham gia giảng dạy cho lớp Trung đẳng Phật học chuyên khoa tại Phật học viện Huệ Nghiêm, Giác Nguyên, Ni trường Từ Nghiêm, Ni trường Dược Sư… cho đến ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước 30-4-1975.

Ngày 7-8-1975, Ban Liên lạc Phật giáo yêu nước TP.HCM thành lập do Hòa thượng Thích Minh Nguyệt làm Chủ tịch, ngài tham gia và đảm nhận chức vụ Trưởng ban Tuyên huấn, dùng giảng đường Vĩnh Nghiêm để thuyết giảng thường kỳ.

Khi Giáo hội Phật giáo Việt Nam thành lập (1981) ngài được suy cử vào Hội đồng Trị sự, đảm nhận Ủy viên Ban Hoằng pháp Trung ương, đồng thời là Ủy viên Hoằng pháp Thành hội Phật giáo TP.HCM.

Năm 1989, được sự chấp thuận của UBND TP.HCM và Ban Tôn giáo, Thành hội Phật giáo TP.HCM thành lập và khai giảng Trường Cơ bản Phật học (nay là Trường Trung cấp Phật học TP.HCM), cơ sở đặt tại chùa Vĩnh Nghiêm, ngài được Ban Trị sự Thành hội Phật giáo TP.HCM bổ nhiệm làm Hiệu trưởng, và đảm nhiệm chức vụ này nhiều nhiệm kỳ, cho đến ngày viên tịch.

Trưởng lão Hòa thượng Thích Từ Thông được Ban Trị sự Thành hội Phật giáo bổ nhiệm Hiệu trưởng Trường Cơ bản Phật học TP.HCM (nay là Trường Trung cấp Phật học TP.HCM) từ lúc thành lập (1988) và đảm nhiệm chức vụ này cho đến ngày viên tịch

Trưởng lão Hòa thượng Thích Từ Thông được Ban Trị sự Thành hội Phật giáo bổ nhiệm Hiệu trưởng Trường Cơ bản Phật học TP.HCM (nay là Trường Trung cấp Phật học TP.HCM) từ lúc thành lập (1988) và đảm nhiệm chức vụ này cho đến ngày viên tịch

Năm 2002, Ban Đại diện Phật giáo huyện Thủ Đức và Ban Trụ trì chùa Thiên Minh - cơ sở II của trường, đồng ý cúng dường cho Thành hội phần đất phía sau chùa để xây dựng cơ sở độc lập cho Trường Trung cấp Phật học, Trưởng lão Hòa thượng đảm nhận việc kiến thiết. Sau thời gian thi công, đến năm 2007, công trình hoàn thành, Trưởng lão Hòa thượng chuyển toàn bộ Tăng Ni sinh từ chùa Vĩnh Nghiêm về chùa Thiên Minh để đào tạo.

Trong gần 40 năm giữ vai trò Hiệu trưởng, Hòa thượng đã đào tạo hàng ngàn Tăng Ni phụng sự cho GHPGVN các cấp.

Tại Đại hội đại biểu Phật giáo toàn quốc lần III (1992), ngài được tấn phong hàng giáo phẩm Hòa thượng. Đến Đại hội đại biểu Phật giáo toàn quốc lần thứ VIII (2017), ngài được Đại hội suy tôn Thành viên Hội đồng Chứng minh GHPGVN.

Qua một cuộc đời hành đạo, hơn 70 năm hoằng pháp, đào tạo Tăng Ni, Trưởng lão Hòa thượng dành nhiều thời gian biên soạn, phiên dịch, chú giải kinh, luận để làm tài liệu, góp vào kho tàng văn học Phật giáo Việt Nam với bút danh Như Huyễn Thiền sư.

Sách vở của Trưởng lão Hòa thượng biên soạn, dịch, sáng tác, một số tác phẩm đã xuất bản, có thể kể: 


- Phật học danh số

- Bát Thức quy Cũ

- Bát Đại Nhơn Giác
- Pháp Hoa Kinh thâm nghĩa đề cương (mời xem)
- Bát Nhã Ba La Mật Kinh Trực chỉ đề cương (mời xem)
- Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật Kinh trực chỉ đề cương (mời xem)
- Duy Ma Cật Sở Thuyết Kinh trực chỉ đề cương (mời xem)
- Thủ Lăng Nghiêm Kinh trực chỉ đề cương (mời xem)
- Như Lai Viên Giác Kinh trực chỉ đề cương (mời xem)
- Chứng Đạo Ca trực chỉ đề cương (mời xem)
- Duy Thức Học Yếu Luận trực chỉ đề cương (mời xem)
- Đại Bát Niết Bàn Kinh trực chỉ đề cương (mời xem)
- Thủ Lăng Nghiêm Kinh tuyển trạch tân tu (mời xem)

*Các tác phẩm do ngài sáng tác:

- Như Huyễn Thiền Sư Thi Tập
- Những Chiếc Lá Trong Tay – Nhận thức lẽ đúng sai trên đường tu phật
- Tập thơ Ngón tay chỉ trăng (11 tập, mời xem)
- Hồi Ký Nhớ Ơn Thầy
- Nhập Phật Tri Kiến.




Thời kỳ viên tịch

Huyễn thân tứ đại đến hồi suy yếu, định luật vô thường không hẹn cùng ai, dù tứ thể bất an nhưng ngài vẫn tự tại trong chánh niệm. Trưởng lão Hòa thượng thuận thế vô thường thâu thần viên tịch vào lúc 12 giờ 45 phút, ngày 17 tháng 10 năm 2025 (nhằm ngày 26 tháng 8 năm Ất Tỵ) tại Trường Trung cấp Phật học TP.HCM; trụ thế: 98 năm, hạ lạp: 76 năm.

Nam-mô Phù Châu đường thượng, Liễu Liễu đường viện chủ, Lâm Tế Gia Phổ tứ thập nhất thế, húy thượng Nhật hạ Thuần, tự Từ Thông, hiệu Như Huyễn Thiền sư, Nguyễn công Trưởng lão Hòa thượng Giác linh thùy từ chứng giám.



Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
8/21/2010(View: 15178)
Tại một ngôi chùa Việt ở Bangkok (Thái Lan), nhục thân của Hòa thượng Thích Phổ Sái vẫn còn nguyên vẹn hình hài sau hơn 50 năm kể từ khi ngài viên tịch. Tọa lạc tại khu Yaowarat (khu phố Tàu) ở Bangkok, ngôi chùa mang tên rất Việt Nam là Khánh Vân có một lịch sử lâu đời do các Hòa thượng người Việt thành lập. Đây là một trong những ngôi chùa Việt thuộc hệ Annamnikaya hay còn gọi là An Nam Tông ở Bangkok. Chính tại chùa Khánh Vân này, nhục thân của Hòa thượng Thích Phổ Sái (pháp danh Giác Lượng), một nhà tu hành gốc Việt, được lưu giữ và thờ cúng.
7/18/2010(View: 9728)
Kính bạch Sư Tổ! Chúng con đang tập tiếp xúc với Người qua hình ảnh một bậc thầy già chốn núi rừng Dương Xuân. Một túp liều tranh, một bà mẹ già và với ba người đệ tử. Đó là khoảng thời gian hạnh phúc nhất của Sư Tổ. Người có thời gian chăm sóc mẹ già và trao truyền những hoa trái tu học cho những người học trò yêu quý. Xuất thân từ làng Trung Kiên – một vùng đất Phật giáo ở Quảng Trị, Sư Tổ đã đến chùa Thiên Thọ (Báo Quốc) núi Hàm Long – Huế, để xuất gia học đạo với Thiền sư Phổ Tịnh, lúc đó Người chỉ mới lên bảy tuổi. Đến năm 30 tuổi, nhận thấy nơi Sư Tổ có chí khí của một bậc Xuất trần nên Sư Tổ được Bổn sư phú pháp truyền đăng với bài kệ: Nhất Định chiếu quang minh Hư không nguyệt mãn viên Tổ tổ truyền phú chúc Đạo Minh kế Tánh Thiên.
7/4/2010(View: 13577)
-Người đi tiên phong và nỗ lực không mệt mỏi cho sự nghiệp phát triển trí tuệ, từ bi và hòa bình- -Nhà lãnh đạo toàn cầu trong phong trào vì hòa bình, nhân quyền và sức khỏe cộng đồng-
6/14/2010(View: 8251)
Hòa Thượng Thích Bích Nguyên là một trong những bậc cao Tăng thạc đức của Phật giáo Lâm Đồng. Ngài họ Nguyễn, húy là Tùng, sinh năm 1898 tại làng Duy Hòa, xã Triệu Hòa, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Thuở nhỏ, bẩm chất thông minh, đĩnh ngộ. Thời tráng niên, lập nghiệp ở Lào, Hòa Thượng nhân đọc báo Từ Bi Âm mà ngộ đạo, thấy rõ cuộc đời vô thường, nuôi chí xuất gia. Đến năm 29 tuổi (1927), Hòa Thượng mới có đủ nhân duyên đầu sư thọ giáo với Hòa Thượng PHƯỚC HUỆ, Trú trì chùa Hải Đức, Huế và đắc giới Sa di năm 1934. Năm 1936, ngài thọ Cụ túc giới với pháp hiệu BÍCH NGUYÊN, rồi theo học ở các lớp Phật học tại các Phật học viện Hải Đức, Bảo Quốc và Ấn Quang.
5/15/2010(View: 7834)
Thiền sư Khánh Hòa sinh năm 1877 tại làng Phú Lễ tỉnh bến Tre, xuất gia năm 19 tuổi tại chùa Khải Tường. Chí nguyện chấn hưng Phật giáo của ông phát sinh vào khoảng năm ông được bốn mươi tuổi. Ông du hành khắp các tổ đình và Nam Kỳ để gây ý thức chấn hưng và kêu gọi sự hợp tác của các bậc tôn túc.
3/19/2010(View: 9963)
Một cặp kính trắng với sợi dây vòng ra sau cổ, năm ba con khỉ nhảy tung tăng trên vai, trên đầu, tóc tai rối rắm, áo quần cái dài, cái ngắn, kiểu đàn ông, đàn bà, đầy màu sắc sặc sỡ …đây là dáng người anh Bùi Giáng chúng ta thường gặp trên những nẽo đường Sài Gòn năm 1975 … Sau năm 1975 , anh Bùi Giáng về ở chung với chúng tôi trong nội xá viện Đại học Vạn Hạnh cũ (222 Trương Minh Giảng, nay là Lê Văn Sĩ). Vào thời điểm này, Đại học Vạn Hạnh không còn hoạt động, nên nội xá chỉ còn một số ít người ở lại với Hòa thượng Viện trưởng Thích Minh Châu. Chúng tôi quản lý chung, chú Chơn Thuần đi chợ và thị giả cho Hòa thượng Viện trưởng, anh Trần Châu phụ trách an ninh, anh Bùi Giáng thì nhận nhiệm vụ đi mua lương thực.
3/10/2010(View: 8630)
Bản thân tôi (Tín Nghĩa), rất ít có dịp thân cận với Ôn Già Lam. Điều dễ hiểu, vì tôi không xuất thân từ Phật Học Viện. Vả lại, mỗi lần Ôn về Huế (Bảo Quốc), thường vào dịp đầu xuân, thì đa phần Ôn hay đàm luận Phật sự với quý Ôn lớn như Ôn Linh Mụ, Ôn Trúc Lâm, Ôn Linh Quang, Ôn Từ Đàm và Ôn Bảo Quốc, . . . Đầu năm, Ôn thường hay nghe Đại luật (tức là dạy luật Tứ phần) cho hai chúng Tỳ kheo và Tỳ kheo ni, thì tôi đạp xe ra học rồi về lại chùa. Vả lại, bổn phận của tôi ở chúng Trúc Lâm cũng tương đối bề bộn. Tuy thế, chính tôi lại có với Ôn ba kỷ niệm khó quên.
3/10/2010(View: 11924)
Bây giờ là những ngày cuối năm âm lịch. Thiên hạ cùng viết về Xuân, Tết. Tôi muốn viết về Ôn Già Lam và Tu viện Quảng Hương Già Lam. Ôn Già Lam là cách gọi tôn kính của những môn đệ và phật-tử hướng về Đại lão Hòa thượng Thích Trí Thủ, vị viện chủ sáng lập tu viện. Trong tu viện, tăng chúng khi nói về ngài thì chỉ dùng chữ “Ôn” một cách gần gũi. Còn tu viện Quảng Hương Già Lam thì vẫn thường được gọi với cái tên thật ngắn: chùa Già Lam.
3/10/2010(View: 9343)
Ôn Già Lam, chỉ ba tiếng ấy thôi cũng đủ làm ấm lòng bao lớp Tăng sinh của các Phật Học Viện: Báo Quốc - Huế, Phổ Đà - Đà Nẵng, Hải Đức - Nha Trang, Già Lam - Sài Gòn. Ba tiếng nói ấy như trái tim của Mẹ ấp ủ đàn con qua suốt quãng đời dãi dầu mưa nắng. Ôn Già Lam, người đã hy sinh suốt đời mình để phụng sự cho Phật pháp, đào tạo Tăng tài qua nhiều thế hệ. Ôn đã khai phóng tinh thần thế học cho Tăng sinh các Phật Học Viện.