Doãn Quốc Sỹ: nhà văn thần thoại

10/21/202513:40(View: 2537)
Doãn Quốc Sỹ: nhà văn thần thoại


doan quoc sy
Doãn Quốc Sỹ: nhà văn thần thoại

Nguyên Giác Phan Tấn Hải

 



Từ thời say mê đọc sách trong các năm trung học, tôi đã nhìn thấy chung quanh mình như là một cõi phân đôi: thế giới thần thoại và thế giới đời thường. Cái nhìn đó vẫn theo tôi không rời, và tôi tin thật rằng các nhân vật trong truyện về các nàng Mị Nương, truyện Bích Câu Kỳ Ngộ của Việt Nam vẫn đang đi lại bên các vị thần của cổ tích Hy Lạp bên ngoài hiên nhà của tôi. Hễ tôi hé cửa nhìn ra là họ biến mất, nhưng khi khép cửa lại, tôi nghe được tiếng họ thì thầm như thúc giục tôi mở ra các trang sách để đọc về những cõi rất là thơ mộng.

Nhiều năm về sau, khi đọc nhiều hơn, tôi mới nhận ra rằng các trang sách của các nhà văn như Doãn Quốc Sỹ, Charles Perrault, Hans Christian Andersen, và Leo Tolstoy là những cánh cửa để tôi nhìn vào thế giới thần thoại, nơi rất nhiều nhân vật của họ là hiện thân của thơ mộng, yêu thương, và bất bạo động.

Các nhân vật của họ như dường không có thật. Nhưng khi nhà văn Doãn Quốc Sỹ, với nụ cười thơ mộng không bao giờ tắt, bước vào tòa soạn Việt Báo, thế giới đời thường của cực nhọc, của suy tính, của các bài bình luận nhức đầu về kinh tế, chính trị, xã hội đều tan biến trước mắt tôi. Thế giới thần thoại hiện ra, bay lơ lửng quanh tôi, theo chân nhà văn họ Doãn, bất kể rằng ông đã vào tuổi lãng đãng. Mà nói cho cùng, có nhà văn, nhà thơ chân thực nào mà không lãng đãng, không cách này thì cách kia.

Thường thì tôi lúng túng khi nói chuyện, vì luôn luôn có người theo nhà đi nhà văn Doãn Quốc Sỹ. Tôi không giữ được cách xưng hô cho thống nhất. Tôi lại thân với bạn Doãn Quốc Hưng, người con trai thường dẫn nhà văn họ Doãn đi nơi này, nơi kia. Tôi hiếm khi nói trực tiếp với nhà văn họ Doãn, vì không biết nói gì với nụ cười rất mực Niết Bàn của cụ. Khi nói chuyện với mọi người, có khi tôi gọi nhà văn Doãn Quốc Sỹ là cụ Sỹ hay là bác Sỹ (khi nhớ rằng mình là bạn của Hưng), có khi gọi là anh Sỹ (khi nhớ rằng nhà thơ Trần Dạ Từ ở tù chung với nhà văn Doãn Quốc Sỹ nhiều năm), và gọi trang trọng là nhà văn khi ngồi viết tin. Và tôi nhận ra, nhà văn Doãn Quốc Sỹ là người của thần thoại, và là người viết cho nền văn học thần thoại. Chắc chắn, nhiều người cũng sẽ mơ hồ nhìn thấy như thế. Mỗi dân tộc sẽ có một người độc đáo như thế.

Trường hợp nước Pháp là nhà văn  Charles Perrault (1628–1703), không chỉ kể chuyện cổ tích cho trẻ em, mà còn gieo vào lòng người lớn những hạt giống yêu thương, đức hạnh. Trong các tác phẩm như Cô bé Lọ Lem hay Người đẹp ngủ trong rừng, nhà văn đã thần thoại hóa thế giới đời thường. Perrault không ca ngợi chiến thắng bằng sức mạnh, mà bằng lòng kiên nhẫn và tình yêu thương.

Trường hợp Đan Mạch là nhà văn Hans Christian Andersen (1805–1875), nơi nhân vật nào cũng ngây thơ và trong sáng. Ông viết cho những người bé nhỏ trong xã hội—cô bé bán diêm, chú lính chì, con thiên nga trên hồ —những nhân vật chịu đau khổ nhưng không đánh mất lòng yêu thương. Truyện của Andersen thần thoại hóa thế giới chung quanh, biến chiếc que diêm, hay giọt nước mắt thành biểu tượng tình thương. Văn chương của ông là ánh sáng dịu dàng soi rọi vào cuộc đời, để chúng ta học cách yêu thương nhau hơn.

Trường hợp nước Nga là nhà văn Leo Tolstoy (1828–1910). Tolstoy không chỉ là tiểu thuyết gia vĩ đại, mà còn là nhà hiền triết của lòng từ bi và bất bạo động. Trong những truyện ngắn đạo đức như Ba câu hỏi (The Three Questions), hay tuyển tập truyện trẻ em "The Lion and the Puppy: And Other Stories for Children", ông dùng ngôn ngữ giản dị để truyền tải thông điệp sâu sắc về sự yêu thương, tha thứ và sống vì người khác. Tolstoy tin rằng sự trong sáng của tâm hồn là con đường duy nhất để nhân loại vượt qua khổ đau. Ông phản đối chiến tranh, lên án bạo lực. Tolstoy viết không phải để giải trí, mà để thức tỉnh trái tim con người.

Trường hợp Việt Nam là nhà văn Doãn Quốc Sỹ (1923-2025), người sống giữa rất nhiều môi trường bạo lực, từ chiến tranh cho tới nhà tù, nhưng ngòi bút vẫn hướng về một thế giới thần thoại trong đời thường, nơi các nhân vật là hiện thân rất mực trong sáng của tình yêu thương, lòng từ bi, sự hy sinh. Truyện của Doãn Quốc Sỹ phần lớn mang màu sắc u buồn nhưng thơ mộng, viết về đời thường mà y hệt truyện cổ tích. Và thực sự là họ Doãn đã kể chuyện thần thoại với tuyển tập “Thần Thoại: Nhật Bản - Đại Dương Châu - Hy Lạp - Bắc Âu” (NXB Sáng Tạo), nơi độc giả sẽ đi lạc vào thế giới hầu như ai cũng đi đứng nói cười với tâm trong sáng.

Có một yếu tố nữa. Khi vào đại học, tôi học ở Văn Khoa, không có cơ duyên học Vạn Hạnh. Không phải kỳ thị, mà chỉ vì nghe lời rủ của người bạn thân là nhà thơ Phan Nhật Tân. Nhìn lại, các vị thầy ở Đại Học Văn Khoa mà tôi học, như GS Nguyễn Văn Trung, GS Lê Tôn Nghiêm, GS Lê Xuân Khoa cho tôi đủ thứ lý luận phức tạp, bàn đủ thứ chuyện nhức đầu về chủ nghĩa hiện sinh của Jean-Paul Sartre hay Albert Camus... Đủ thứ “nghiêm và buồn.”  Tôi không được học nhà văn Doãn Quốc Sỹ ở Văn Khoa, cho dù tôi còn nhớ là nơi nữ sinh viên nào cũng rất đẹp, và là nơi nam sinh viên nào cũng ưa nói về hiện tượng luận và lắm chuyện bí hiểm.

Trong khi đó, Đại Học Vạn Hạnh là một cõi rất thần thoại, rất thơ mộng, nơi của một cõi trời cao hơn các tầng mây của Thầy Minh Châu, Bùi Giáng, Phạm Công Thiện, Tuệ Sỹ, Lê Mạnh Thát, Ni sư Trí Hải... nơi của thơ và thơ. Vạn Hạnh cũng là nơi của công án, nơi tôi vẫn mơ hồ nghĩ rằng, mình bước vào thăm ngôi trường đó, nói lạc một chút là sẽ bị một thiền sư nào đó đánh cho 30 gậy liền (thực tế, tôi chưa đọc bản tin nào kể chuyện tương tự như thế, chỉ là lúc đó tôi tưởng như các trang sách Lâm Tế Ngữ Lục là một cõi rất thực trong sân trường này). Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lúc đó cũng là một nhân vật trong cõi thần thoại Vạn Hạnh, đầy sương khói. Họ là thế giới rất là xa với tôi.


1 DOAN QUOC SY
Nhà văn Doãn Quốc Sỹ (1923-2025).

 

02 Doan quoc sy_by Phan Tan Hai

Chân dung nhà văn Doãn Quốc Sỹ, do PTH vẽ.


doan quoc-6



Chỉ tới nhiều thập niên sau, vào nghề báo ở hải ngoại, tôi mới thấy gần với tất cả các thế giới thần thoại trong cõi này, nơi đó có nhiều cơ duyên để tôi gặp Đức Đạt Lai Lạt Ma, và nhiều vị khác. Thế rồi tôi đã gặp, đã nói chuyện, đã phỏng vấn, hay đã thân cận với rất nhiều văn nghệ sĩ, trong đó có Phạm Duy, Mai Thảo, Kiều Chinh, Ngô Thế Vinh, Võ Phiến, Nguyễn Mộng Giác, Thảo Trường, Nhã Ca, Trần Dạ Từ, Phạm Công Thiện, Du Tử Lê, Nguyễn Đức Quang, Hoàng Quốc Bảo và nhiều vị khác nữa. Tôi cầm máy ảnh chạy theo họ và tôi viết tin về thế giới thần thoại của thiên đường văn học lưu vong này. Trong đó, nhà văn Doãn Quốc Sỹ là một vị thần nổi bật: cụ lãng đãng như sương khói, khuôn mặt cụ ngây thơ như con nai ven rừng, và nụ cười của cụ làm tịch lặng tất cả mọi trầm tư của người đối diện.

Sau này đọc nhiều hơn, tôi nhận ra, nhiều nhà văn khác cũng nhìn về Doãn Quốc Sỹ như một nhân vật của cõi chư thần. Như trong tác phẩm Trái Cây Đau Khổ, một truyện-kịch của Doãn Quốc Sỹ ấn hành năm 1963, Lời mở đầu của Thanh Tâm Tuyền ghi rằng, trích:

“...nhân vật của Doãn Quốc Sỹ là con người nắm chặt được hạnh phúc, bất chấp giao động tráo trở của Định Mệnh. Một nhà văn của cổ tích phương Đông! Bản chất không chấp nhận sự tàn nhẫn, anh viết kịch với những nhân vật hạnh phúc của anh. Và kịch trở thành thơ, một cuộc đối thoại triền miên, không dứt ngụp lặn trong thế giới của Thực và Mộng, quái gở và hồn hậu. Những cái thực được coi là Mộng và Mộng hóa thành Thực. Kịch rốt cuộc chỉ là cổ tích và thần thoại. Khi Doãn Quốc Sỹ dùng cặp mắt trong suốt và thơ ngây của mình để biến cõi Thực – anh đang phải sống, anh không chấp nhận và coi tính chất bi đát của nó chỉ là phù du trong sự vận chuyển vô cùng khoáng đạt của Vũ Trụ - thành những biểu tượng, vô tình anh đã vĩnh viễn hóa nó trong nỗi bi đát không cùng...” (ngưng trích)



doan quoc sy-1than thoai-doan quoc sydoan quoc sy-5doan quoc sy-3doan quoc sy-2doan quoc sy-1


Đó, nhân vật của Doãn Quốc Sỹ thơ mộng như thế đấy, chỉ là cổ tích và thần thoại. Thực tế, ngoài đời thường, cụ Doãn Quốc Sỹ cũng thần thoại và cổ tích y hệt. Hãy nghe lời kể của nhà thơ Đỗ Quý Toàn (bình luận gia Ngô Nhân Dụng) trong bài viết nhan đề “Doãn Quốc Sỹ - Thế Đấy!” trích như sau:

Hồi đầu 1970 một nhóm sinh viên văn nghệ ở Sài Gòn mời nhà văn Doãn Quốc Sỹ tới nói chuyện. Tiễn ông ra về rồi, mấy phút sau thấy ông quay trở lại. Ông cười hề hề, hỏi có ai dùng xe gắn máy đưa ông về nhà được không. Tại sao? Ông cười khà khà: “Mất xe rồi! Ai nó lấy mất rồi!”

Cái xe “nội hóa” La Dalat ông vẫn lái đi giao những tác phẩm của ông và nhà xuất bản Sáng Tạo cho các tiệm bán sách. Cả một tài sản, và phương tiện mưu sinh cần thiết. Nó biến mất. Mà hồi đó ở Sài Gòn chắc không ai mua bảo hiểm để mất xe sẽ được đền! Mất xe, ông vẫn cười khà khà, như thể mới nghe ai kể một chuyện hài hước!

Cả đời Doãn Quốc Sỹ vẫn cười khà khà, mắt không trợn lên, lông mày không chau lại. Không để cái được, cái mất, cái may, cái rủi làm động tâm. Thường ai cũng muốn tu tập công phu để đạt tới trạng thái này. Hình như Doãn Quốc Sỹ sống tự nhiên như vậy, không hề cố gắng. Ông viết cuốn Vào Thiền, tái bản nhiều lần. Bị cộng sản bắt bỏ tù, vào trong tù ông ngồi thiền. Quản giáo bắt đi nghe gì thì đi. Có gì ăn thì ăn, lúc nào được ngủ thì ngủ. Bị bắt lần thứ hai, vẫn như vậy, lại ngồi thiền. Thở vào, thở ra, nhẹ như mây bay, vững như núi đá.” (ngưng trích)

Thế là cụ an nhiên y hệt trên mây rồi. Nhân vật trong truyện của cụ Doãn Quốc Sỹ là cổ tích thì dễ hiểu, nhưng trong khuôn viên đại học và trong lao tù mà vẫn sống được như chuyện cổ tích thì quả là hy hữu. Một bài viết nhan đề "Dọn Dẹp Tạp Niệm" của Doãn Tư Liên, con gái cụ Doãn Quốc Sỹ, có đoạn đối thoại với cụ, trích như sau:

"Có lần con gái hỏi Cụ: - Bố, giữa khuya bố còn ngồi thiền như thuở trong tù không?

- Không con. Lúc nào bố chẳng hành thiền. Đâu cần phải ngồi đâu!

- À, thì ra thế.

Thôi thì cụ già 100 tuổi mà vẫn đi đứng, nằm ngồi mà không cần người trợ giúp." (ngưng trích)

Trong tác phẩm “Vào Thiền” của nhà văn Doãn Quốc Sỹ, tôi đặc biệt là nhớ tới hình ảnh dòng sông và que diêm, do cụ Doãn viết về đời người, xin trích:

Dòng đời như dòng sông, không một sát na nào ngừng trôi chảy. Nô lệ cho lý trí đơn thuần ham cắt xén thì chỉ thấy được cái ngưng đọng, cái chết. Những khái niệm con đẻ của lý trí chật hẹp và khô cứng kia làm sao chụp được dòng thực tại không ngừng triền miên trong thế tương sinh tương lập - đối tượng của thiền! Mỗi chúng ta là một que diêm sống! Không ai sống hộ ta, ta phải tự sống lấy, tự chiêm nghiệm lấy Thiền. Que diêm khi tắt đi, chút khói xanh để lại. Rồi chính chút khói xanh đó cũng tan loãng nốt và biến hẳn-như vết chân cát xóa! [...] Nói đến Thiền là nói đến không tâm. Nhưng đừng quên phần đi song hành với không tâm là diệu hữu. Bởi vì nếu chỉ đơn thuần có không tâm thôi, thì đó là ngoan không cái không trống rỗng, không có gì!” (ngưng trích)

Và nơi đây, xin chép lại hai câu đối của Phan Tấn Hải thành kính viết mừng cụ Doãn Quốc Sỹ tròn 95 tuổi vào năm 2018:

 

Mang gươm giới định huệ, đi tới cùng trời cuối đất
Phá trận tham sân si, viết để Giữ Ngọc Gìn Vàng...

 

Độc giả có thể tìm đọc thêm ở trang https://www.doanquocsy.com/ nơi đang lưu giữ nhiều bài viết, tác phẩm, hình ảnh của nhà văn Doãn Quốc Sỹ và nhiều nhận định từ nhiều nhà văn khác. Và đó cũng là nơi bạn sẽ bước vào thế giới thần thoại của một nhà văn rất độc đáo.

 

 

 

Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
11/6/2024(View: 4130)
Vào lúc 08h30 sáng nay, ngày 05/11/2024 (nhằm mồng 5 tháng 10 Giáp Thìn), môn đồ pháp quyến đã trang nghiêm tổ chức đại lễ Tưởng niệm huý nhật lần thứ 3 (2019-2024) Cố Trưởng lão Hoà thượng Thích Như Ý, huý Trừng Huệ, hiệu Ấn Bảo, nguyên Ủy viên Thường trực Hội đồng Chứng minh, Chứng minh Ban Trị sự GHPGVN tỉnh Khánh Hòa, khai sơn các chùa Linh Sơn Pháp Bảo (X.Vĩnh Ngọc, TP. Nha Trang), Linh Sơn Pháp Ấn (X. Suối Cát, Cam Lâm) và chùa Linh Sơn Phước Điền (X. Phước Đồng, TP. Nha Trang).
10/30/2024(View: 3505)
Hòa thượng họ Trần, húy Văn Vinh, pháp danh Chơn Phú, tự Chánh Hữu, hiệu Thích Bích Lâm. Ngài sinh ngày 24 tháng 11 năm Giáp Tý (1924) tại phường Đệ Nhị- Nha Trang- Khánh Hòa, thân phụ là cụ Trần Đức Tựu, thân mẫu là cụ bà Trần Thị Đủ. Sớm có nhân duyên với Phật pháp, Ngài được Hòa thượng Thích Phước Huệ, chùa Sắc Tứ Hải Đức cho quy y ngày 19 tháng 2 năm Nhâm Thân (1932), pháp danh Chơn Phú. Đến ngày 15 tháng 10 năm Kỷ Mão (1939), Ngài được Hòa thượng cho thế độ, phú pháp tự là Chánh Hữu, hiệu Bích Lâm. Năm 1945, Ngài thọ Tam đàn Cụ Túc tại chùa Sắc Tứ Hải Đức do Hòa thượng Phước Huệ tái thí, truyền trao giới pháp. Năm 1946 Ngài được đề cử trụ trì Tổ đình Nghĩa Phương.
10/22/2024(View: 3055)
Hòa Thượng thế danh Lê Đình Nam, sinh năm Mậu Thân (1908) trong một gia đình trung nông, có truyền thống Nho học. ở làng Đại An, xã Kỳ Long (nay là xã Tam Thái, huyện Phú Ninh, thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam). Thân phụ là cụ ông Lê Văn Thơ, Thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Mới. Những năm đầu của thập niên 40, Ngài mới có nhân duyên gặp Phật Pháp và cũng trong thời gian này Ngài cùng với người anh là Lê Trọng Hoàng, em là Lê Tấn Phước cùng với Phật tử Nguyễn Quế phát tâm sáng lập chùa Đại An tại quê nhà vào năm 1944.
10/21/2024(View: 4627)
Trong đêm dài vô minh, với nổi khổ vô biên của chúng sanh, Chư Phật, Chư Tổ sư, liệt vị Tăng-già đã truyền thắp cho nhau ngọn đèn vô tận để soi sáng cung ma, biến uế độ thành tịnh độ. Trong sự tiếp nối chí nguyện thù thắng đó, Đức Trưởng lão Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ, Đệ lục Tăng thống GHPGVNTN đã đem bi tâm phổ hóa quần sanh, thắp đèn tuệ dẫn người ra khỏi rừng tà, vận đức dũng giữ nền đạo thống, dựng đứng dậy những gì đã sụp đổ, mang lý tưởng Bồ-tát đạo dưỡng nuôi chánh tín trong lòng tứ chúng.
10/20/2024(View: 5885)
Để tưởng niệm, ngày giáp năm của một bậc Tôn Túc mà suốt đời đã phụng hiến cho Đạo Pháp, dân tộc và nhân loại; đã hiến dâng con đường giáo dục tri thức cho nhiều thế hệ hôm nay và mai sau; đã phát nguyện cho công trình phiên dịch Đại Tạng Kinh được sớm thành tựu viên mãn: “Hư không hữu tận, ngã nguyện vô cùng.” Dù Hòa Thượng đã chích lý Tây quy, nhưng hình hài và âm hưởng vẫn luôn tồn tại sâu xa trong tâm khảm của mỗi chúng ta, hàng tứ chúng đệ tử Phật. Do vậy, Ban Tổ Chức, nhất tâm đảnh lễ và kính thỉnh chư Tôn Hòa Thượng, Thượng Tọa, Đại Đức Tăng Ni từ bi hoan hỷ quang lâm chứng minh, tham dự buổi lễ được tổ chức tại: Địa Điểm: Chùa Kim Quang tại số: 3119 Alta Arden Expy, Sacramento, CA 95825 Thời Gian: 10:00 sáng – 1:00 giờ chiều Chủ Nhật, ngày 17/11/2024 (nhằm ngày 17 tháng 10 năm Giáp Thìn) Số điện thoại liên lạc: Phó Trưởng BTC HT. Thích Từ Lực số: (510) 331-6899 (tiếng Việt) và phụ tá Thư ký: HTr. Tâm Thường Định: (916) 607-4066 (tiếng Anh)
10/20/2024(View: 3237)
Thầy đi rồi cơ nghiệp vẫn còn đây Đại tạng kinh in dấu ấn sâu dày Khúc dương cầm, những áng văn trác tuyệt Tấm lòng son đầy nhiệt huyết quan hoài
10/10/2024(View: 7154)
Đây là lần thứ hai tôi đến Tu Viện Gaden Shartse Thubten Dhargye Ling (còn được gọi là Chùa TDL) tại Thành Phố Long Beach, Miền Nam California, Hoa Kỳ. Lần đầu tôi đến đây cách nay vài năm để làm phóng sự cho pháp sự kiến tạo Mạn Đà La do chư Tăng từ Tu Viện Gaden Shartse Monastery tại Ấn Độ sang thực hiện.
9/28/2024(View: 8805)
Vào lúc 09h00 ngày 27/9/2024 (nhằm 25/8/Giáp Thìn), môn đồ pháp quyến Tổ đình chùa Kỳ Viên Trung Nghĩa đã trang nghiêm thiết lễ Huý nhật thường niên Tưởng niệm Cố Hoà thượng Thích Trí Viên và Hiệp kỵ chư Tôn Sư khai sơn tạo tự. Quang lâm tham dự lễ có sự hiện diện của HT. Thích Quảng Thiện, Hoà thượng Thích Nguyên Quang đồng thành viên Hội đồng Chứng minh Trung ương Giáo Hội, Chứng minh Ban Trị sự GHPGVN tỉnh Khánh Hoà; cùng chư tôn Hoà thượng chứng minh, chư tôn giáo phẩm Thường trực Ban Trị sự, chư Tôn đức Tăng, Ni và đông đảo quý Phật tử thành phố Nha Trang về tụng kinh, thắp hương tri ân tưởng niệm.
9/18/2024(View: 4395)
Trong vũ trụ bao la vô bờ bến, từ vô thỉ đến vô chung; với những cơn sóng bạt ngàn giữa lòng đại dương, hay những khe suối ẩn mình chảy róc rách giữa chốn rừng sâu, hay những cơn đại phong thịnh nộ thổi đi những bảo vật ra tận chốn mù khơi! Một chúng sanh có nhiều yếu tố nhân duyên hội tụ để rồi tan hợp, hợp tan. Từ dòng nghiệp thức ấy, đã xuất hiện những bông hoa xinh đẹp, để tô điểm cho cuộc đời này thêm nhiều hương sắc! Kính bạch quý Ngài, thưa Quý vị: Hôm nay, giờ này tại Khánh Anh Tự, Chúng tôi có nhân duyên từ Nam bán cầu, một đất nước xa xôi, đến xứ trời Âu để tham dự ngày Giỗ tổ về nguồn, Đại giới đàn Minh Tâm và tán thán công hạnh của cố Trưởng lão Minh Châu, người đã cống hiến cuộc đời cho Đạo pháp.