Nhẹ Gót Thong Dong (kính tiễn Thầy Phương Bình, viên tịch tại xứ Phù Tang)

16/08/202408:02(Xem: 2442)
Nhẹ Gót Thong Dong (kính tiễn Thầy Phương Bình, viên tịch tại xứ Phù Tang)



thay phuong binh-2

Nhẹ Gót Thong Dong




Phương Bình Nhẹ gót thong dong
Ngàn lâu mây trắng, giữa Hồng hạt bay.
Xứ Nhật Bản, tiễn chân Thầy,
Về Nơi tịnh Cảnh, hương say tâm từ.


Phương Bình một niệm Huân tu,
Ngàn xưa giữa chốn, Vân du hành trình.
Ba mươi năm, một chút tình.
Xuất gia thửa nhỏ, lời kinh nhiệm màu.


Sáu mùa hạ Lạp pháp thâu,
Trì danh giới luật, một câu kinh Huyền.
Quan Thế Âm, chút thiền viên,
Lắng nghe sóng vỗ, tự nhiên an lành.


Thiền Viện Vạn hạnh lừng danh,
Một tâm phụng sự, chỉ dành duyên xưa.
Xứ Nhật Bản kết bốn mùa,
Hoa Đàm tuy rụng, đại thừa pháp âm.


Đại Ân dấu ấn chữ Tâm,
Xưng ngôi đường thượng, gởi tầm bay cao.
Lời dạy y pháp thanh tao,
Dưỡng nuôi hạt Ngọc, bước vào cuộc chơi.


Bây chừ thả hết cho đời,
Thả luôn tứ đại, một lời A Di.
Quay về chốn Tổ dung nghi,
Chân dung nối gót, từ bi tâm Thầy.


Bây chừ thanh thản cõi này,
Vẫy chào cánh hạt, tung bay muôn trùng.
Sắc thân gởi tạm trùng Phùng.
Phương bình vạn nẻo, nghìn trùng tự do.


Sắc không nhịp bước lên đò,
Hồi quy cõi tịnh, ru hò câu kinh.
Mênh Mông không tướng Huyền linh,
Ngàn xưa Phật Quốc, Phương Bình lạc bang.



thay phuong binh-1




Nhớ giác linh xưa: Tôi và Thầy có một duyên gặp nhau từ khi còn là cư sĩ, duyên ấy cứ trôi vào hư không cõi tịch, và nụ cười thôi cũng đủ cái nét nhớ về người Thầy ngày xưa.

Thế rồi: Nghe Thầy đi xuất gia Tôi vui lắm, tình thương của chiếc áo nâu sòng mãi mãi giữ gìn trọn vẹn một cõi tâm an trú giới hành.

Duyên xưa còn chắc chắn thì ta sẻ gặp và kết tình như vậy đúng không Phương Bình nhỉ, một kỳ ngộ lạ thường, năm 2014 Thầy và Tôi gặp lại chốn Thiền Viện Vạn Hạnh - Đà Lạt, như cái duyên xưa, kể chuyện về đời tư, cái vui, cái khó, cái buồn, cái hạnh phúc.

Ngày Thầy bước lên Thọ giới Tỳ Kheo, Thầy mong muốn Tôi hiến tặng Pháp y, nhất trí không ngần ngại, và Tôi tác chứng cho Thầy ba bộ y mà trong tâm Tôi vui vô ngần, thế là cứ thế mà vui.

Ngày Tôi có duyên lên gặp Thầy sau ngày thọ Đại Giới Tỳ Kheo, Thầy bảo rằng: “Trân Trọng những hạnh nguyện mãi mãi bên lộ trình xuất gia….!”.

Tôi bảo:
“ Phương Như trí Sáng Trăng
Bình Như Tâm tự tại
Thong dong ngàn mây trắng
Hạnh nguyện kiếp Như Lai..”

Ngày Thầy gọi Tôi bảo rằng:
“Phương Bình chào Pháp lữ, Minh Thế đi Nhật học tiếp về ngành y…!”

Thế là Tôi bảo rằng:
“Tinh tấn hạnh nguyện, hẹn ngày tái Phùng ở xứ Phù Tang.”

Duyên thế thôi, Tôi chưa kịp thì Phương Bình đã rong chơi niềm Tịch Lạc xứ Tịnh Độ Di Đà..!
Pháp y xưa, ngày nay xin phụng thờ như là duyên trong tình pháp hữu giữ chốn Hồng Trần nhân gian.
Thôi thì, xin hẹn kiếp tao Phùng ở cảnh tịnh độ tinh tu..!

Ngày sinh Nhật của Tôi Thầy nhắn tin gởi lời chúc, thế mà ba ngày sau nghe tin Thầy đã từ giả cõi tạm…! Thế nghe Phương Bình kính thương.

Kính Tiễn biệt Phương Bình…!
Nam Mô Đại Ân Đường Thượng TOCHIGI- Nhật Bản, Quán Thế Âm Môn Hạ, Lâm Tế Chánh Tông Tứ Thập Lục Thế Huý thượng Nhuận hạ Thành Trí, tự Phương Bình Nguyễn Công Đại Đức Giác Linh Liên Toạ Nhã Giám…!

Mùa Tịnh Hạ An Cư-2568

Viết tại Phổ Tịnh Thiền Thất, khi nghe tin Thầy xả báo huyễn thân, tại xứ Phù Tang. Lúc 15 giờ 3 phút, ngày 06-08-2024 -tức ngày 03-07-Giáp Thìn.
Tk: Thích Minh Thế
Bút danh: Hỷ Tâm Hải Triều.






Bút hiệu: Tịnh Nhật Vân Quang.

🙏🙏🙏🌼🍁🌺🍀🌹🥀🌷🌸🏵️🌼🍁🌺🍀🌹🥀🌷🌸

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
19/02/2013(Xem: 11424)
Mới đây các nhà khảo cổ Mỹ và Canada đưa ra chứng cứ cho rằng Phật giáo đã được truyền vào Mỹ trước khi ông Columbus tìm ra châu Mỹ. Tuy nhiên, theo các tài liệu có được hiện nay thì Phật giáo chỉ thật sự có mặt tại Mỹ sau kỳ Đại hội Tôn giáo Thế giới tổ chức tại bang Chicago vào năm 1893. Nhưng ai là người có công truyền bá và làm lớn mạnh "hạt giống Bồ đề" trên đất Mỹ? Trong bài này, chúng tôi sẽ giới thiệu một số nhà sư cư sĩ người châu Á, những người tiên phong có công đặt nền móng xây dựng ngôi nhà chánh pháp trên đất Mỹ.
10/02/2013(Xem: 12714)
Từ những con người bình thường, không được sinh ra ở cung vàng điện ngọc, nhưng rồi trở thành những vị vua anh minh tài kiêm văn võ, tư tưởng và nhân cách cao siêu, mãi còn đọng lại với thời gian. Dù sống ở hoàng cung nhưng tâm lúc nào cũng vượt thoát, làm bậc đế vương nhưng hạnh vẫn là một sơn Tăng, ưa vui với gió nội mây ngàn, thở nhịp cùng đất trời nhân gian cây cỏ. Để rồi trở thành những người con Phật vĩ đại, trí tuệ và công hạnh thắm đượm cả không gian, thức tỉnh chúng ta trên bến bờ sinh tử của mê ngộ, đậm nét trong lòng người đến tận hôm nay. Bồ Tát Lương Võ Đế ( 463-549 ) của Trung Hoa và Trần Thái Tông ( 1218-1277) của Việt Nam, dù ở hai phương trời xa cách, sinh ra ở hai thời điểm khác nhau, nhưng cùng chung một tấm lòng, mang an lạc thịnh vượng đến cho nhân dân, và một hạnh nguyện chuyển hoá cứu độ quần sanh.
07/02/2013(Xem: 24063)
Nửa thế kỷ Tôn Sư vắng bóng, Ánh Đạo Vàng tỏa rộng muôn phương Hôm nay tổ chức huy hoàn Hằng năm kỷ niệm, đàn tràng tôn nghiêm. Môn đồ Tứ chúng ngưỡng chiêm,
06/02/2013(Xem: 10071)
Hòa thượng Bích Liên, thế danh là Nguyễn Trọng Khải, hiệu Mai Đình (Thận Thần Thị), sinh ngày 16 tháng 3 năm Bính Tý (1876), tại làng Háo Đức, phủ An Nhơn, nay là ấp Háo Đức, xã Nhơn An, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. Ngài sinh trưởng trong một gia đình nho học, được theo nghiệp bút nghiên từ nhỏ. Cha là Tú Tài Nguyễn Tự, mẹ là bà Lâm Thị Hòa Nghị . Năm 20 tuổi, Ngài lập gia đình với cô Lê Thị Hồng Kiều, người làng An Hòa, (nay thuộc xã Nhơn Khánh cùng huyện). Năm 31 tuổi, Ngài lều chõng vào trường thi Hương Bình Định và đỗ Tú Tài. Ba năm sau, Ngài lại đỗ Tú Tài lần nữa. Từ đó, biết mình long đong trên bước đường khoa bảng, Ngài giã từ lều chõng, ở nhà mở trường dạy học, mượn trăng thanh gió mát di dưỡng tính tình, lấy chén rượu câu thơ vui cùng tuế nguyệt.
03/02/2013(Xem: 8594)
Tuệ Sỹ là ai mà thơ hào sảng, hùng tâm tráng khí như thế ? Tuệ Sỹ quê Quảng Bình, sinh năm 1943, nhỏ hơn Phạm Công Thiện 2 tuổi, cũng là một bậc thiên tài xuất chúng, làu thông kinh điển Nguyên thủy, Đại thừa và nhiều thứ tiếng Anh, Pháp, Đức, Hán, Phạn, Pali. Khi mới vừa 26 tuổi đã viết Triết học về Tánh Không làm chấn động giới văn nghệ sĩ, học giả, thiện tri thức Việt Nam thời bấy giờ.
20/01/2013(Xem: 8486)
Phạm Công Thiện(1/6/1941 - 8/3/2011), là một nhà văn, triết gia, học giả, thi sĩ và cư sĩ Phật Giáo người Việt Nam với pháp danh Thích Nguyên Tánh. Tuy nhận mình là nhà thơ và phủ nhận nghề triết gia, ông vẫn được coi là một triết gia thần đồng, một hiện tượng dị thường của Sài Gòn thập niên 60 và của Việt Nam với những tư tưởng ít người hiểu và được bộc phát từ hồi còn rất trẻ. Dưới đây là bài viết của Tâm Nhiên nhân sắp đến ngày giỗ của ông.
12/01/2013(Xem: 8371)
Đã có rất nhiều sách vở, bài viết hoặc với tính chất nghiên cứu, hoặc là các bài giảng phổ cập bàn về tông Thiên Thai và kinh Pháp Hoa. Bài viết này nói đến vai trò, vị trí của Đại sư Trí Khải và tông Thiên Thai trong lịch sử Phật giáo, cũng như trong nền văn hóa tư tưởng của toàn thể nhân loại. Đại sư Trí Khải sinh năm 538, vào thời đại mà sau này các sử gia gọi là Nam Bắc triều (220-589). Sông Dương Tử được lấy làm gianh giới phân chia giữa hai miền Nam và Bắc. Trong thiền sử, ta thường nghe nói đến câu Nam Năng (Huệ Năng)-Bắc Tú (Thần Tú), để phân biệt hai dòng thiền: Đại sư Thần Tú xiển dương Thiền tiệm ngộ ngay tại Trường An; Đại sư Huệ Năng phát triển Thiền đốn ngộ tại vùng Quảng Đông và lân cận. Bấy giờ Trung Hoa bị chia thành nhiều nước nhỏ, nước này xâm lăng và thôn tính nước kia, gây nên nhiều cuộc chiến tương tàn, dân chúng sống trong cảnh lầm than đau khổ.
07/01/2013(Xem: 9517)
Phần lớn độc giả biết nhiều đến các tiểu luận và các tập thơ phản chiến, nhưng ít người biết đến những bài thơ Thiền của Nhất Hạnh. Tôi xin trích một bài được nhà xuất bản Unicorn Press xuất bản trong tâp thơ Zen Poems của Nhất Hạnh vào năm 1976 (bản dịch Anh Ngữ) của Võ Đình. Bài này được in vào tuyển tập thơ nhạc họa vào mùa Phật Đản 1964
10/12/2012(Xem: 9798)
Cả cuộc đời 86 tuổi của Ngài Đội trời đạp đất, đã tròn chưa bản nguyện Kiếp tu hành 81 năm của Ngài Gánh vác hy sinh...
09/10/2012(Xem: 14990)
Thiền sư Lê Mạnh Thátcho rằng Vua Trần Nhân Tông là một nhân vật tiêu biểu trong lịch sử Việt Nam nhất là vì tư tưởng hòa giải dân tộc của ông vẫn còn tính thời sự. Trả lời câu hỏi của BBC vì sao tư tưởng của Trần Nhân Tông (trị vì từ năm 1278-1293) và là Phật Hoàng, sáng lập ra phái thiền phái Trúc Lâm vẫn còn có tính thời sự đối với Việt Nam và cả quan hệ Mỹ - Việt cũng như Việt - Trung, Tiến sỹ Lê Mạnh Thát nói: