Ngọn Đèn Sáng Mãi

07/01/202405:35(Xem: 3713)
Ngọn Đèn Sáng Mãi


ht tue sy

NGỌN ĐÈN SÁNG MÃI


 

Trong tôi là cả một đại dương sóng dậy, sau khi đọc bài viết của anh Quảng Diệu Trần Bảo Toàn. Tôi cảm phục anh vô cùng, một trí thức đúng nghĩa, một tài năng thực thụ, một Phật tử đầy nhiệt huyết và đạo tâm. Anh đã dùng khả năng và các mối quan hệ rộng rãi của mình với các bác sĩ tài giỏi nhất để chữa bệnh cho thầy. Anh đã lo lắng chăm sóc sức khỏe cho thầy với tất cả tâm thành và khả năng của anh. Tôi ước gì được gặp anh để một lần bày tỏ sự khâm phục và cảm ơn anh.

Trong giấc ngủ chập chờn sau đó, tôi thấy thần thức mình bay về Thị Ngại am đảnh lễ và ôm chân thầy. Thầy cười hiền từ: “Sao anh lễ lạy một ông già như tôi?”. Tôi thưa: “ Con đâu đảnh lễ cái xác thân tứ đại này, con đảnh lễ biển trí huệ mênh mông kia, đức phạm hạnh như trăng sao, lòng son vì đạo pháp và nước non, tâm từ bi hoằng pháp vì lợi sanh...”. Tôi nguyện đem thân mạng sống vô dụng và thừa thãi của mình hoán đổi mệnh cho thầy, đem số năm thọ mạng còn lại chuyển cho thầy, để thầy có thêm thời gian tiếp tục công cuộc hoằng hóa lợi sanh, phục hoạt Phật Việt, dịch kinh dạy chúng, quan hoài vận mệnh quốc gia…

Nhưng rồi tôi giật mình tỉnh giấc, tôi ý thức được chuyện hoán cải mệnh chỉ có trong Lão giáo, trong kiếm hiệp thần tiên truyện, liêu trai... Phật giáo không có chuyện này, không thể có chuyện hoán mệnh được, nhân qủa không bao giờ sai vạy. Kỳ lân có mệnh của kỳ lân, thằn lằn cắc ké có mệnh thần lằn cắc ké. Tâm thành kính mến, ngưỡng mộ đến mấy cũng không sao hoán đổi hay thay thế mệnh được!

Qua những lời tường thuật của anh Bảo Toàn, tôi hình dung những cơn đau khủng khiếp mà thầy đã và đang chịu đựng, mặc dù định lực cao nhưng những cơn đau khiến thầy toát mồ hôi hay run rẩy thì mới biết mức độ đau đến dường nào. Ban đầu thầy từ chối chữa trị nhưng rồi thầy đồng ý chữa trị không phải vì tham sống sợ chết mà vì công cuộc phục hoạt Phật Việt vẫn còn dở dang, bộ đại tạng kinh vẫn chưa phiên dịch xong, giáo hội dân vẫn tròng trành ngã nghiêng, bao nhiêu tâm nguyện chưa thành… Thầy tiếp tục sống vì lợi sanh, vì tứ chúng chứ bản thân thầy thì sống chết có nghĩa lý gì, ngoài những mục đích trên thì chẳng có lý do gì để tìm cách duy trì sự sống trong cơn đau khủng khiếp ấy! Ung thư di căn vào xương, không thể giải phẩu, không thể hóa trị hay xạ trị. Bác sĩ bảo chỉ còn sống chừng sáu tháng nhưng rồi thầy đã vượt qua năm năm. Ấy là sức mạnh tinh thần của thầy, nội công định lực của thầy. Ấy cũng là công sức và tài năng của những bác sĩ giỏi nhất về ung thư, nội tiết, niệu của cả Việt Nam và Nhật Bản.

Xin cảm ơn anh Bảo Toàn và các vị bác sĩ đã chăm sóc sức khỏe cho thầy, các vị đã làm được việc mà bao nhiêu người khác không làm được. Các vị là những vị hộ pháp đắc lực đã hộ trì bậc long tượng sư vương, thạch trụ thiền lâm. Các vị đã giúp duy trì hơi thở cho một nhân cách Việt, một trí huệ Việt, một người Việt chân chính nhất.

Nước Việt, người Việt, Phật Việt chịu nhiều tai họa, tổn thất, loạn lạc… nhưng cũng may mắn có được những bậc sư vương long tượng như ngài Huyền Quang, Quảng Độ và thầy là người tiếp nối mạng mạch Phật Việt, đương thân gánh vác trọng trách trùng hưng phật Việt, dịch đại tạng kinh ra tiếng Việt, phục hoạt giáo hội dân. Thầy đã hết lòng vì cơ đồ của Như Lai cũng như cơ đồ của tổ tiên, vận mệnh của dân tộc. Thầy chịu bao khổ nạn tù đày, hình án, quản chế, cô lập, cấm bế, mạ lỵ...Nhưng với bậc Bồ Tát hoá thân vào đời thì thiền thất hay ngục thất có hề chi. Phật Việt và cơ đồ tổ tiên vẫn còn nhiều nguy nan, đêm trường vẫn ngự trị nhưng may mắn thay còn đó một vì sao!

Thầy giờ đây như ngọn đèn sắp tàn bấc cạn dầu, thầy yếu lắm rồi, có khi ngồi dậy không nổi nhưng thầy vẫn hoạt động không ngừng nghỉ: Việc thiền định đương nhiên vẫn thế, việc dịch bộ đại tạng kinh chưa xong nên thầy vẫn tiếp tục tra cứu, đối chiếu, phiên dịch. Bệnh không thể ngăn cản việc thầy dành trọn tâm huyết để phục hưng Phật Việt, phục hoạt giáo hội, chấn tác thiền môn, quan hoài quốc vận dân sinh.

Bậc hiền sĩ vốn xem thân mạng nhẹ như lông hồng, sống chết không phải là vấn đề đáng lo lắng. Bậc long tượng sư vương vốn xem thân tứ đại này chỉ là phương tiện, dùng nó để hoằng hóa Phật pháp, vì lợi ích chúng sanh.

Thầy gầy gò trong bộ áo lam, đôi mắt sáng như sao giữ đêm trường. Trong tấm thân ấy là cả một nội lực hơn muôn người. Xác thân tứ đại ấy là cả một biển trí huệ từ nội điển đến ngoại điển. Con người gầy gò ấy là cả một tấm lòng cao cả bao la, một nghệ sĩ tài hoa, một thiền sư xuất chúng, một tinh thần quả cảm của một chiến binh, một chiến binh của lòng từ bi. Thầy hiện thân của tinh thần kim cang vô úy. Ngôn ngữ thế gian này cũng chỉ nói được đến thế mà thôi!

Thầy ơi! Nói sao hết nỗi niềm ngổn ngang trong lòng đây? Thầy như mặt trời rực rỡ soi sáng cho chúng con. Chúng con ngưỡng vọng và tôn kính thầy, chúng con cảm nhận nỗi đau của thân xác mà thầy đang ngày đêm chịu đựng. Chúng con nguyện cầu chư Phật, chư Bồ Tát gia hộ để những cơn đau thuyên giảm để thầy tiếp tục công việc hoằng pháp lợi sanh. Chúng con tha thiết muốn đảnh lễ thầy nhưng đành vọng từ xa. Có lần về quê, chúng con muốn đến đảnh lễ thầy nhưng biết thầy nhập thất, thời giờ của thầy dành trọn cho việc dịch kinh, hoằng pháp vả lại chúng con cũng tự biết bản thân mình nên không dám làm phiền quấy rầy thầy. Mặc dù chưa một lần diện kiến nhưng trong tâm chúng con hình bóng thầy như nhật nguyệt luôn luôn thường trực. Trong tâm chúng con hình bóng ông thầy gầy gò hiền từ đôi mắt sáng như sao. Trong tâm chúng con ông thầy ngồi bấm dương cầm như thể trong giấc mơ.

Thầy, một vị sư già gần gũi thân thương. Thầy hiện thân như ông Bụt giữa đời thường, dù có nói thế nào cũng không làm sao hết ý cạn lời.

Thầy đã đến

Dụng công trùng hưng lại miếu đền

Phục hoạt dòng Phật Việt

Giáo hội dân, non nước cơ đồ

Đêm trường lấp lánh một vì sao

Giữa loạn động vững tòng lâm thạch trụ

Khúc dương cầm cúng dường mười phương Phật

Những vần thơ cho đất nở hoa

Thị Ngạn am an trụ pháp tòa

Đại tạng kinh ngày đêm chuyển ngữ

Thầy ngồi đó lay lòng lữ thứ

Nụ cười hiền sứ giả Như Lai

Sanh tử có hề chi

Tất cả vì lợi ích chúng sanh

Công cuộc hoằng dương chánh pháp

Đêm gần tàn mà ngày chưa thấy sáng

Cuộc trùng hưng còn lắm nỗi gian nan

Tuy thân bệnh mà tâm hồn rỗng rang

Thầy bền gan kim cang vô úy

Thầy gầy gò lồng lộng hồn đại sĩ

Làm tất cả mà như thể vô vi

Trái tim nhỏ ẩn chứa đại bi

Chẳng bận đến đi chỉ vì lợi sanh độ chúng

 

Tiểu lục Thần Phong

Ất Lăng thành, 1123


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
23/09/2010(Xem: 8903)
Hòa Thượng Thích Phước Huệ sanh năm 1922, tại ấp Mỹ Thủy, xã Thạnh Mỹ Lợi, quận Thủ Đức, tỉnh Gia Định, miền Nam Việt Nam. Thân phụ là cụ ông Trần Văn Hoạch, thân mẫu là cụ bà Lê Thị Ngọc.
19/09/2010(Xem: 11063)
Ngay từ hồi nhỏ tâm hồn tôi đã hướng về đạo Phật. Tôi it nói, sống trong trầm lặng, ham đọc sách, nhất là những sách về đạo Phật viết cho trẻ em. Tôi chỉ có vài đứa bạn cũng giống tính tôi, gặp nhau thì vào buồng thủ thỉ thù thì nói chuyện với nhau. Cha tôi buôn bán lớn, giao thiệp nhiều, và cũng như phần đông các nhà kinh doanh hồi đó, đều quen biết các vị sư và đóng góp nhiều cho chùa chiền. Khi các thầy đến thăm cha tôi, lúc nào tôi cũng đứng gần nghe ngóng say sưa và dâng trà cho các thầy.
04/09/2010(Xem: 9293)
"Cây héo vào xuân hoa nỡ rộ Gió đưa nghìn dặm nức hương thần." Thiền Uyển Tập Anh ( Anh Tú Vườn Thiền) ghi về sư như sau: " Thiền Sư Viên Chiếu (999-1090) thuộc thế hệ thứ bảy dòng Vô Ngôn Thông.Thiền Sư họ Mai, tên Trực người huyện Long Đàm châu Phúc Điền, là con người anh thái hậu Linh Cảm đời Lý. Thuở nhỏ ông thông minh mẫn tuệ, hiếu học. Nghe tiếng trưỡng lão ở chùa Mật Nghiêm giỏi xem tướng, ông bèn đến nhờ xem hộ.
21/08/2010(Xem: 15601)
Tại một ngôi chùa Việt ở Bangkok (Thái Lan), nhục thân của Hòa thượng Thích Phổ Sái vẫn còn nguyên vẹn hình hài sau hơn 50 năm kể từ khi ngài viên tịch. Tọa lạc tại khu Yaowarat (khu phố Tàu) ở Bangkok, ngôi chùa mang tên rất Việt Nam là Khánh Vân có một lịch sử lâu đời do các Hòa thượng người Việt thành lập. Đây là một trong những ngôi chùa Việt thuộc hệ Annamnikaya hay còn gọi là An Nam Tông ở Bangkok. Chính tại chùa Khánh Vân này, nhục thân của Hòa thượng Thích Phổ Sái (pháp danh Giác Lượng), một nhà tu hành gốc Việt, được lưu giữ và thờ cúng.
18/07/2010(Xem: 9865)
Kính bạch Sư Tổ! Chúng con đang tập tiếp xúc với Người qua hình ảnh một bậc thầy già chốn núi rừng Dương Xuân. Một túp liều tranh, một bà mẹ già và với ba người đệ tử. Đó là khoảng thời gian hạnh phúc nhất của Sư Tổ. Người có thời gian chăm sóc mẹ già và trao truyền những hoa trái tu học cho những người học trò yêu quý. Xuất thân từ làng Trung Kiên – một vùng đất Phật giáo ở Quảng Trị, Sư Tổ đã đến chùa Thiên Thọ (Báo Quốc) núi Hàm Long – Huế, để xuất gia học đạo với Thiền sư Phổ Tịnh, lúc đó Người chỉ mới lên bảy tuổi. Đến năm 30 tuổi, nhận thấy nơi Sư Tổ có chí khí của một bậc Xuất trần nên Sư Tổ được Bổn sư phú pháp truyền đăng với bài kệ: Nhất Định chiếu quang minh Hư không nguyệt mãn viên Tổ tổ truyền phú chúc Đạo Minh kế Tánh Thiên.
04/07/2010(Xem: 13823)
-Người đi tiên phong và nỗ lực không mệt mỏi cho sự nghiệp phát triển trí tuệ, từ bi và hòa bình- -Nhà lãnh đạo toàn cầu trong phong trào vì hòa bình, nhân quyền và sức khỏe cộng đồng-
14/06/2010(Xem: 8382)
Hòa Thượng Thích Bích Nguyên là một trong những bậc cao Tăng thạc đức của Phật giáo Lâm Đồng. Ngài họ Nguyễn, húy là Tùng, sinh năm 1898 tại làng Duy Hòa, xã Triệu Hòa, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Thuở nhỏ, bẩm chất thông minh, đĩnh ngộ. Thời tráng niên, lập nghiệp ở Lào, Hòa Thượng nhân đọc báo Từ Bi Âm mà ngộ đạo, thấy rõ cuộc đời vô thường, nuôi chí xuất gia. Đến năm 29 tuổi (1927), Hòa Thượng mới có đủ nhân duyên đầu sư thọ giáo với Hòa Thượng PHƯỚC HUỆ, Trú trì chùa Hải Đức, Huế và đắc giới Sa di năm 1934. Năm 1936, ngài thọ Cụ túc giới với pháp hiệu BÍCH NGUYÊN, rồi theo học ở các lớp Phật học tại các Phật học viện Hải Đức, Bảo Quốc và Ấn Quang.
15/05/2010(Xem: 8086)
Thiền sư Khánh Hòa sinh năm 1877 tại làng Phú Lễ tỉnh bến Tre, xuất gia năm 19 tuổi tại chùa Khải Tường. Chí nguyện chấn hưng Phật giáo của ông phát sinh vào khoảng năm ông được bốn mươi tuổi. Ông du hành khắp các tổ đình và Nam Kỳ để gây ý thức chấn hưng và kêu gọi sự hợp tác của các bậc tôn túc.
19/03/2010(Xem: 10111)
Một cặp kính trắng với sợi dây vòng ra sau cổ, năm ba con khỉ nhảy tung tăng trên vai, trên đầu, tóc tai rối rắm, áo quần cái dài, cái ngắn, kiểu đàn ông, đàn bà, đầy màu sắc sặc sỡ …đây là dáng người anh Bùi Giáng chúng ta thường gặp trên những nẽo đường Sài Gòn năm 1975 … Sau năm 1975 , anh Bùi Giáng về ở chung với chúng tôi trong nội xá viện Đại học Vạn Hạnh cũ (222 Trương Minh Giảng, nay là Lê Văn Sĩ). Vào thời điểm này, Đại học Vạn Hạnh không còn hoạt động, nên nội xá chỉ còn một số ít người ở lại với Hòa thượng Viện trưởng Thích Minh Châu. Chúng tôi quản lý chung, chú Chơn Thuần đi chợ và thị giả cho Hòa thượng Viện trưởng, anh Trần Châu phụ trách an ninh, anh Bùi Giáng thì nhận nhiệm vụ đi mua lương thực.