Ngọn Đèn Sáng Mãi

07/01/202405:35(Xem: 3680)
Ngọn Đèn Sáng Mãi


ht tue sy

NGỌN ĐÈN SÁNG MÃI


 

Trong tôi là cả một đại dương sóng dậy, sau khi đọc bài viết của anh Quảng Diệu Trần Bảo Toàn. Tôi cảm phục anh vô cùng, một trí thức đúng nghĩa, một tài năng thực thụ, một Phật tử đầy nhiệt huyết và đạo tâm. Anh đã dùng khả năng và các mối quan hệ rộng rãi của mình với các bác sĩ tài giỏi nhất để chữa bệnh cho thầy. Anh đã lo lắng chăm sóc sức khỏe cho thầy với tất cả tâm thành và khả năng của anh. Tôi ước gì được gặp anh để một lần bày tỏ sự khâm phục và cảm ơn anh.

Trong giấc ngủ chập chờn sau đó, tôi thấy thần thức mình bay về Thị Ngại am đảnh lễ và ôm chân thầy. Thầy cười hiền từ: “Sao anh lễ lạy một ông già như tôi?”. Tôi thưa: “ Con đâu đảnh lễ cái xác thân tứ đại này, con đảnh lễ biển trí huệ mênh mông kia, đức phạm hạnh như trăng sao, lòng son vì đạo pháp và nước non, tâm từ bi hoằng pháp vì lợi sanh...”. Tôi nguyện đem thân mạng sống vô dụng và thừa thãi của mình hoán đổi mệnh cho thầy, đem số năm thọ mạng còn lại chuyển cho thầy, để thầy có thêm thời gian tiếp tục công cuộc hoằng hóa lợi sanh, phục hoạt Phật Việt, dịch kinh dạy chúng, quan hoài vận mệnh quốc gia…

Nhưng rồi tôi giật mình tỉnh giấc, tôi ý thức được chuyện hoán cải mệnh chỉ có trong Lão giáo, trong kiếm hiệp thần tiên truyện, liêu trai... Phật giáo không có chuyện này, không thể có chuyện hoán mệnh được, nhân qủa không bao giờ sai vạy. Kỳ lân có mệnh của kỳ lân, thằn lằn cắc ké có mệnh thần lằn cắc ké. Tâm thành kính mến, ngưỡng mộ đến mấy cũng không sao hoán đổi hay thay thế mệnh được!

Qua những lời tường thuật của anh Bảo Toàn, tôi hình dung những cơn đau khủng khiếp mà thầy đã và đang chịu đựng, mặc dù định lực cao nhưng những cơn đau khiến thầy toát mồ hôi hay run rẩy thì mới biết mức độ đau đến dường nào. Ban đầu thầy từ chối chữa trị nhưng rồi thầy đồng ý chữa trị không phải vì tham sống sợ chết mà vì công cuộc phục hoạt Phật Việt vẫn còn dở dang, bộ đại tạng kinh vẫn chưa phiên dịch xong, giáo hội dân vẫn tròng trành ngã nghiêng, bao nhiêu tâm nguyện chưa thành… Thầy tiếp tục sống vì lợi sanh, vì tứ chúng chứ bản thân thầy thì sống chết có nghĩa lý gì, ngoài những mục đích trên thì chẳng có lý do gì để tìm cách duy trì sự sống trong cơn đau khủng khiếp ấy! Ung thư di căn vào xương, không thể giải phẩu, không thể hóa trị hay xạ trị. Bác sĩ bảo chỉ còn sống chừng sáu tháng nhưng rồi thầy đã vượt qua năm năm. Ấy là sức mạnh tinh thần của thầy, nội công định lực của thầy. Ấy cũng là công sức và tài năng của những bác sĩ giỏi nhất về ung thư, nội tiết, niệu của cả Việt Nam và Nhật Bản.

Xin cảm ơn anh Bảo Toàn và các vị bác sĩ đã chăm sóc sức khỏe cho thầy, các vị đã làm được việc mà bao nhiêu người khác không làm được. Các vị là những vị hộ pháp đắc lực đã hộ trì bậc long tượng sư vương, thạch trụ thiền lâm. Các vị đã giúp duy trì hơi thở cho một nhân cách Việt, một trí huệ Việt, một người Việt chân chính nhất.

Nước Việt, người Việt, Phật Việt chịu nhiều tai họa, tổn thất, loạn lạc… nhưng cũng may mắn có được những bậc sư vương long tượng như ngài Huyền Quang, Quảng Độ và thầy là người tiếp nối mạng mạch Phật Việt, đương thân gánh vác trọng trách trùng hưng phật Việt, dịch đại tạng kinh ra tiếng Việt, phục hoạt giáo hội dân. Thầy đã hết lòng vì cơ đồ của Như Lai cũng như cơ đồ của tổ tiên, vận mệnh của dân tộc. Thầy chịu bao khổ nạn tù đày, hình án, quản chế, cô lập, cấm bế, mạ lỵ...Nhưng với bậc Bồ Tát hoá thân vào đời thì thiền thất hay ngục thất có hề chi. Phật Việt và cơ đồ tổ tiên vẫn còn nhiều nguy nan, đêm trường vẫn ngự trị nhưng may mắn thay còn đó một vì sao!

Thầy giờ đây như ngọn đèn sắp tàn bấc cạn dầu, thầy yếu lắm rồi, có khi ngồi dậy không nổi nhưng thầy vẫn hoạt động không ngừng nghỉ: Việc thiền định đương nhiên vẫn thế, việc dịch bộ đại tạng kinh chưa xong nên thầy vẫn tiếp tục tra cứu, đối chiếu, phiên dịch. Bệnh không thể ngăn cản việc thầy dành trọn tâm huyết để phục hưng Phật Việt, phục hoạt giáo hội, chấn tác thiền môn, quan hoài quốc vận dân sinh.

Bậc hiền sĩ vốn xem thân mạng nhẹ như lông hồng, sống chết không phải là vấn đề đáng lo lắng. Bậc long tượng sư vương vốn xem thân tứ đại này chỉ là phương tiện, dùng nó để hoằng hóa Phật pháp, vì lợi ích chúng sanh.

Thầy gầy gò trong bộ áo lam, đôi mắt sáng như sao giữ đêm trường. Trong tấm thân ấy là cả một nội lực hơn muôn người. Xác thân tứ đại ấy là cả một biển trí huệ từ nội điển đến ngoại điển. Con người gầy gò ấy là cả một tấm lòng cao cả bao la, một nghệ sĩ tài hoa, một thiền sư xuất chúng, một tinh thần quả cảm của một chiến binh, một chiến binh của lòng từ bi. Thầy hiện thân của tinh thần kim cang vô úy. Ngôn ngữ thế gian này cũng chỉ nói được đến thế mà thôi!

Thầy ơi! Nói sao hết nỗi niềm ngổn ngang trong lòng đây? Thầy như mặt trời rực rỡ soi sáng cho chúng con. Chúng con ngưỡng vọng và tôn kính thầy, chúng con cảm nhận nỗi đau của thân xác mà thầy đang ngày đêm chịu đựng. Chúng con nguyện cầu chư Phật, chư Bồ Tát gia hộ để những cơn đau thuyên giảm để thầy tiếp tục công việc hoằng pháp lợi sanh. Chúng con tha thiết muốn đảnh lễ thầy nhưng đành vọng từ xa. Có lần về quê, chúng con muốn đến đảnh lễ thầy nhưng biết thầy nhập thất, thời giờ của thầy dành trọn cho việc dịch kinh, hoằng pháp vả lại chúng con cũng tự biết bản thân mình nên không dám làm phiền quấy rầy thầy. Mặc dù chưa một lần diện kiến nhưng trong tâm chúng con hình bóng thầy như nhật nguyệt luôn luôn thường trực. Trong tâm chúng con hình bóng ông thầy gầy gò hiền từ đôi mắt sáng như sao. Trong tâm chúng con ông thầy ngồi bấm dương cầm như thể trong giấc mơ.

Thầy, một vị sư già gần gũi thân thương. Thầy hiện thân như ông Bụt giữa đời thường, dù có nói thế nào cũng không làm sao hết ý cạn lời.

Thầy đã đến

Dụng công trùng hưng lại miếu đền

Phục hoạt dòng Phật Việt

Giáo hội dân, non nước cơ đồ

Đêm trường lấp lánh một vì sao

Giữa loạn động vững tòng lâm thạch trụ

Khúc dương cầm cúng dường mười phương Phật

Những vần thơ cho đất nở hoa

Thị Ngạn am an trụ pháp tòa

Đại tạng kinh ngày đêm chuyển ngữ

Thầy ngồi đó lay lòng lữ thứ

Nụ cười hiền sứ giả Như Lai

Sanh tử có hề chi

Tất cả vì lợi ích chúng sanh

Công cuộc hoằng dương chánh pháp

Đêm gần tàn mà ngày chưa thấy sáng

Cuộc trùng hưng còn lắm nỗi gian nan

Tuy thân bệnh mà tâm hồn rỗng rang

Thầy bền gan kim cang vô úy

Thầy gầy gò lồng lộng hồn đại sĩ

Làm tất cả mà như thể vô vi

Trái tim nhỏ ẩn chứa đại bi

Chẳng bận đến đi chỉ vì lợi sanh độ chúng

 

Tiểu lục Thần Phong

Ất Lăng thành, 1123


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/04/2013(Xem: 7590)
Hòa thượng Thích Quảng Đức, thế danh là Lâm Văn Tuất sinh năm 1897 (Đinh Dậu) tại thôn Hội Khánh, xã Vạn Khánh, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa. Thân sinh là cụ Lâm Hũu Ứng và bà Nguyễn Thị Nương.
09/04/2013(Xem: 10317)
Hòa Thượng Bửu Chơn thế danh là Phạm Văn Thông, sinh năm Tân Hợi (1911) tại Sa Đéc – Đồng Tháp. Thuở thiếu thời Ngài sinh sống tại đất nước Chùa Tháp Campuchia, do đó Ngài thấm nhuần Phật Giáo Nam Tông vốn là quốc giáo của Vương quốc này. Sẵn có túc duyên Phật pháp nên vào năm 1940, Ngài xuất gia thuộc hệ phái Nam Tông. Sau đó Ngài vào rừng chấp trì hạnh đầu đà (Dhatanga) suốt mười hai năm. Năm 1951 Ngài được Phật tử Việt Nam cung thỉnh về Sài Gòn để truyền bá giáo pháp Nguyên Thủy
09/04/2013(Xem: 9700)
Hòa thượng thế danh là Võ Hóa, pháp danh Chơn Húy, pháp hiệu Khánh Anh, Ngài sinh năm Ất Mùi (1895) tại xã Phổ Nhì, tổng Lại Đức, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi. Khi nhỏ, Ngài theo học Nho, luôn tỏ ra là một Nho sinh xuất sắc.
09/04/2013(Xem: 10972)
Hòa thượng Khánh Hòa thế danh Lê Khánh Hòa, Pháp danh Như Trí, pháp hiệu Khánh Hòa, sinh năm Mậu Thân (1877) tại làng Phú Lễ, tổng Bảo Trị, quận Ba Tri, tỉnh Bến Tre.
09/04/2013(Xem: 9427)
Hòa thượng Thích Hưng Từ, thế danh Bùi Vạn Anh, sinh ngày mùng 1 tháng 8 năm Tân Hợi ( 1911 ) tại làng Bình Hòa, xã An Dân, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên. Ngài sinh trong một gia đình có truyền thống đạo Phật. Thân phụ là cụ Bùi Thế Vĩ, pháp danh Như chơn, thân mẫu là cụ bà Võ Thị Biểu, pháp danh là Thị Bửu. Từ nhỏ Ngài được song thân giáo dục trong tinh thần từ bi và chan chứa đức hỷ xả của Phật, nên Ngài sớm mộ cửa Thiền.
09/04/2013(Xem: 8916)
Hòa thượng Huệ Quang, thế danh Nguyễn Văn Ân sing năm 1888 tại Ô Môn, tỉnh Cần Thơ, sau theo mẹ về Trà Vinh. Năm 1902,Ngài xin xuất gia vào chùa Long Thành ở Trà Cú được Hòa thượng Thiện Trí mến thương đặt danh pháp là Thiện Hải. Ngoài giờ học Phật pháp, Ngài lại được Hòa thượng cho học thêm y học.
09/04/2013(Xem: 8895)
Hòa thượng Thích Phúc Hộ, thế danh là Huỳnh Văn Nghĩa, sinh ngày 24 tháng 7 năm Giáp Thìn (1904) đời vua Thành Thái năm thứ 16 tại làng Triều Sơn, xã Xuân Thọ, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên. Song thân của Ngài là cụ ông Huỳnh Trung và cụ bà Trần Thị Nho.
09/04/2013(Xem: 10221)
Chùa Thập Tháp là một trong số các ngôi tổ đình nổi tiếng của đất Bình Định Nếu như ở thời kỳ khởi đầu, ngôi tổ đình ấy được chú ý nhiều vì vị khai sơn là Thiền sư Nguyên Thiều - người có công lớn trong sứ mạng truyền bá Phật giáo ở Đàng Trong thời Nam Bắc phân tranh, hậu bán thế kỷ 17 ; thì vào thời hiện đại, tổ đình Thập Tháp được cả nước biết đến vì sự có mặt của Quốc sư Phước Huệ (1869-1945).
09/04/2013(Xem: 10053)
Ngài đã nêu cao tinh thần Bi, Trí, Dũng phục vụ chúng sinh, cống hiến trọn vẹn đời mình cho sự nghiệp chung của đạo pháp và dân tộc Việt Nam. Hòa thượng Thích Trừng San, pháp tự Minh Hiền, hiệu Hải Tuệ, thế danh Nguyễn San sau đổi là Trần Văn Lâu, nối pháp đời thứ 42 dòng Lâm Tế Liễu Quán. Ngài sinh năm Nhâm Tuất (1922), tại thôn Phú Khánh, xã Diên Thạnh, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa. Năm lên 8 tuổi, được song thân cho xuất gia học đạo với Hòa thượng Phổ Hiện, tại chùa Khánh Long, Diên Khánh. Sau khi Bổn sư viên tịch, Ngài y chỉ với Hòa thượng Chánh Ký, kế vị trụ trì chùa Khánh Long. Năm 1943 được y chỉ sư gửi đến thọ giáo với Hòa thượng Bích Không, trụ trì chùa Hải Đức (Nha Trang).
09/04/2013(Xem: 12859)
Hòa thượng Giới Nghiêm thế danh là Nguyễn Đình Trấn, sinh ngày 5 tháng 5 năm 1921, tại làng Gia Lê Thượng, xã Thủy Phương, huyện Hương Phú, tỉnh Thừa Thiên - Huế. ngài xuất thân trong một gia đình gồm ba anh em, có tinh thần yêu nước và có truyền thống đạo đức lâu đời. Ông nội là bậc xuất gia, cha là Hòa Thượng Quang Diệu, chú cũng xuất gia, bác là Hòa thượng Phước Duyên.