Tiễn Bước Thong Đong (Kính tưởng niệm Giác Linh tân viên tịch TT Thích Hoằng Mãn ( 1970-2023 ).

31/05/202308:02(Xem: 5174)
Tiễn Bước Thong Đong (Kính tưởng niệm Giác Linh tân viên tịch TT Thích Hoằng Mãn ( 1970-2023 ).


tt hoang man (1)tt hoang man (2)
Tiễn Bước Thong Đong.


Cố Hương tiễn bước thong Dong,
Tịch nhiên xã báo, sắc không trở về.
Chơn tâm nối gót Bồ đề,
Dung nghi tướng Phật, nguyện thề Vân Du.


Tuổi nhỏ phát thệ chân tu,
Thuyền Tôn mở lối, hạnh từ xuất gia.
Thậm thậm vi diệu thiên hà,
Nghe âm tán tụng, giữa tà huy say.


Chuông vang nhịp mõ đêm ngày,
Luật nghi kinh tụng, thấm đầy tương chao.
Dự thời, đàn tuệ ban trao.
Nguyên Thông nối mạch, bước vào thiền gia.


Vuông tròn chí nguyện châu xa,
Hoằng Mãn- pháp tự, dự hàng chung tôn.
Chánh Tín pháp hiệu xứng ngôn,
Công văn, Tả, Hữu, trai đàn bạt âm.


Phú Hậu, dẫn lối tìm tâm,
Giữ gìn hạnh mạch, kiến tầm trùng Hưng.
Ngôi nhà Tăng bảo uy hùng,
Truyền tam quy giới, từng vùng đại phương.


Hương Trà Trị Sự chơn thường,
Tăng sai y luật, mở đường hương bay.
Nụ cười giản dị trong thầy,
Chứng minh ngôi vị, đông đầy tình thương.


Xứ Mỹ Vân hoá du phương,
Xứ Ấn đi đến, ngàn hương du hành.
Nam -Trung- Bắc nguyện đại thành,
Đàn tràng chẩn bạt, âm thanh cúng dường.


Thiền thất vắng đọng giọt sương,
Chuổi tràn bụi dính, vách tường bụi bay.
Vắng Thầy, vắng tiếng âm hay,
Khoé mi rụng giọt, khóc thầy “Nguyên Thông”.


Thôi thì, giữ cõi sắc không,
Nhất tâm niệm Phật, giữa Hồng bạch liên.
Bến thuyền Tịnh độ an nhiên,
Thầy đi tự tại, Tịnh thiền quy Tây.


Sen vàng Phật đản đón Thầy,
Chánh Tín Tây khứ, tháng ngày tịch vi.
Phật Quốc Tịnh độ khắc ghi,
Cữu liên đài bạn, dung nghi đón Thầy.




tt hoang man (3)
tt hoang man (4)tt hoang man (5)tt hoang man (6)tt hoang man (7)tt hoang man (8)tt hoang man (9)tt hoang man (10)tt hoang man (11)

tt hoang man (12)
Duyên Trùng Phùng:

Nhân duyên chúng con được diện kiến Thượng Toạ Thích Hoằng Mãn, rất nhiều lần trong các pháp sự đàn chẩn, nghe âm thanh tán tụng, giọng điệu cực kỳ êm tai. Từ nhân duyên ấy, chúng con được hầu chuyện và được nghe pháp âm của Thượng Toạ rất nhiều và ấn tượng từ cung cách khiêm cung, nụ cười luôn nở trên môi, phong thái nho nhã, ứng sử khôn khéo, từ đây chúng con học được một câu nói hay của Thượng Toạ: “ Tâm hoằng hoá xã thân tín mãn, nguyện thông dung đức hạnh khiêm nhường..”

Bạch Thượng Toạ, thế là 53 mùa Xuân đi qua, 29 mùa an cư kiết giới, tuổi nhỏ tầm chơn xuất gia giữa chốn thiền gia Tổ Đình Thuyền Tôn, hầu cận cho chư vị Tôn sư, chăm sóc chúng điệu một thời, gian khổ khoai sắn cơm độn qua ngày, chí hướng xuất Trần vương cao tầm dõng sĩ, thời gian trôi như gió mộng không mây, ẩn hương tâm bằng thân giới định.

Các lớp trường di giáo song vận chân tu, đọc từng con chữ, tán tụng âm thâu, pháp khí hiển bầy tang linh mõ, chuông trống vọng hồi từ các buổi công phu khuya sớm chiều tà, Hán văn đèn sách niệt mài, các lớp Sơ- Trung, nghiêm tầm kinh sử, vận khí thông niệm như bảo sở trì kinh, cứ thế mà đủ giới tướng trí đức, Tam đàn cầu giới pháp, xứng danh con dòng Thích Tử.

Âm thanh tán tụng, Tả Hữu gia trì, công văn đàn nội, ngoại đàn ứng thanh, cứ vậy mà xuyên suốt một thời tu tập, Nam- Trung- Bắc, dấu chân ấy đi qua vùng niềm, nuôi hạt giống thiện tâm, trao truyền dòng Thích Tử, môn chúng đệ tử quy tựu tu trì. Xứ Mỹ Vân Du đăng trình hoa lệ, đến vận hoá, ký gởi các môn hạ xứ Trời Tây, đến như mây trắng, đi như tựa sương trong..!

Nương Pháp phái Tây Thiên Xứ Huế, làm nơi y luật tu thân. Rồi từ đây, ứng khảo các giới đàn, phụ trách nhiều công tác Giáo hội giao phó. Ngoài Trưởng Ban tri sự Huyện Hương Trà, Chứng Minh Tối cao tại vùng Xứ Huyện, cố vấn những đều cần và phải nghiêm chỉnh huân tu. Và cũng từ đây Huyện nhà Hương Trà Phát triển, qua hai nhiệm kỳ phục vụ niềm tin Chánh pháp. Các lớp đạo tràng, các tuần diễn giản, các khoá tu học định kỳ bát quan trai. Hướng dẫn đồ chúng nương thân tu học.

Thế rồi, pháp thân tướng bệnh, huyễn mộng xã buông, ban trao đồ chúng, khiêm nhường an yên trì danh hiệu Phật A Di Đà. Trong trượng thất thơm hương mùi tinh tấn.

Bạch Thượng Toạ, chúng con nhớ về lời dạy mà Thượng Toạ đã trao cho chúng con nhân duyên thù thắng lần cuối năm 2021, nhân pháp sự trai đàn chẩn tế bên Ngoại tộc quê hương Thanh Phước chúng con, đã thành tâm thỉnh Thượng Toạ vào ban kinh sư cho pháp lễ.
Thượng Tọa dạy rằng:

“ Làm vị Tăng du hành trên lộ trình đầy chông gai, nhưng biết quay đầu về Tam Bảo thì vị ấy có đủ tướng Tăng, phải trì kinh niệm luật, đồng thời nương chư vị Tôn túc cầu học, thì mới vững nội hành, gốc trí tuệ lưu thông.”

Thượng Tọa dạy tiếp:
“ Giới là nguyện, định là tu, tuệ là hành, vững khí thông giao, ai làm được vị ấy sẻ có nguồn giác ngộ.”

Thượng Tọa dạy:
“ Tán tụng kinh Phật, liễu ngộ tu hành thì mới có Phước gia trì cho gia chủ, chớ vọng tâm tạp niệm thì chẳng có phúc tu thân..”
Chúng con lắng nghe lời dạy đó và ngẫm nghĩ từng hành hoá, từ trùng Phùng nhân duyên ấy, chúng con dâng lên bộ Pháp y, được Thượng Toạ hoan hỷ đón nhận, và dạy rằng:

“ Pháp y này là cuối đời của Tui, xin thọ pháp như luật, y hành truyền độ, nhận lãnh tâm giới mà ứng hoá tuỳ duyên…, xin sau này sẻ phụng thờ Pháp tướng điều y, như Hoằng Mãn tui đây gia tâm phụng hiến…! Xin niệm ân Thầy Minh Thế, Thích Minh Thành, sư Cô Hoàn Tỉnh, cùng gia quyến luôn đầy đủ phúc báu niềm tin, trong Chánh pháp cho hôm nay và mai sau…!”

Bạch Thượng Toạ, giờ này nghe tin từ các huynh đệ báo tin, Pháp thân sắc tướng Thượng Toạ đã an nhiên thu thần thị tịch, về cảnh tịnh độ thiền viên bên niềm cực lạc, chúng con vọng bái chấp Tay hướng về giác linh đài Phú Hậu Tự, nơi tôn trí Pháp y, Long vị, Di ảnh cùng Huyền thân ngủ ấm nơi lưu dấu Hoài niệm tôn dung.

Kính bái biệt Thượng Toạ…!

Phụng vị Tôn Sư Tân Viên Tịch Lâm Tế Tông Tứ Thập Tứ thế, Việt Nam Phật Giáo Thừa Thiên Tỉnh Giáo Hội, Trị Sự Ban Uỷ Viên, Hương Trà Thị Xã Trị Sự Ban Viên Trưởng Ban, Chứng Minh Giáo Phẩm, Tây Thiên Môn Phái, Thiền Tôn môn Hạ, Trùng Hưng Phú Hậu Tự Trú trì huý Thượng Nguyên hạ Thông Tự Hoằng Mãn hiệu Chánh Tín Nguyễn Công Thượng Toạ Giác Linh Thiền Toạ Chứng Giám.
( 1970-2023 ).
Trụ thế: 53 Xuân thu
Hạ Lạp: 29 mùa kiết giới đại Tăng Tùng Hạ, nghiêm trì luật nghi.

Hà Nội- Phổ Tịnh Thiền Vi - Mùa sen nở Phật Đản trở về, ngày, 11-04-Quý Mão.
Tk: Thích Minh Thế
Bút danh: Hỷ Tâm Hải Triều.
Bút hiệu: Tịnh Nhật Vân Quang.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
15/11/2010(Xem: 10614)
Vào ngày 1-11-1963 khi quân đội đứng lên làm cuộc đảo chánh lật đổ chế độ của gia đình Ô. Ngô Đình Diệm - mà Hội Đồng Quân Dân Cách Mạng do Đại Tướng Dương Văn Minh cầm đầu gọi đó là cuộc “Cách Mạng” thì tôi là cậu sinh viên Luật Khoa Năm Thứ Nhất, chuẩn bị thi lên Năm Thứ Hai của Đại Học Luật Khoa Sài Gòn. Bố tôi sính đọc sách báo, vả lại gia đình cư ngụ ở xóm lao động cho nên Radio hàng xóm mở ầm ầm cả ngày khiến dù không muốn nghe nhưng cũng phải nghe tin tức từng giờ của đài phát thanh. Hơn thế nữa khi Sài Gòn nổ ra cuộc đấu tranh của Phật Giáo thì hầu như các đại học, trung học đều đóng của hoặc tự động bãi khóa.
10/11/2010(Xem: 11332)
Hoà Thượng thế danh Diệp Quang Tiền, pháp danh Tâm Khai, tự Thiện Giác, hiệu Trí Ấn Nhật Liên. Ngài sanh ngày 13 tháng 10 năm Quý Hợi (1923) tại thôn Xuân Yên, xã Triệu Thượng, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, trong một gia đình thâm tín Phật Giáo. Thân phụ là cụ Diệp Chí Hoan; thân mẫu là cụ bà Phan Thị Đường. Hai cụ sinh hạ được 5 người con : 4 nam, 1 nữ - Ngài là con thứ trong gia đình, sau anh trưởng là Thầy Diệp Tôn (Thích Thiện Liên). Năm lên 6 tuổi (1928) gia đình Ngài dời về thôn Diên Sanh, xã Hải Thọ, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Thân sinh Ngài đã rước thầy Đồ Nho danh tiếng về nhà để dạy chữ Hán cho hai con. Hai anh em Ngài thường được cụ Đồ khen là thông minh, hứa hẹn một tương lai tốt đẹp. Năm lên 10 tuổi (1932), Ngài theo học Việt Văn tại thôn Diên Sanh.
02/11/2010(Xem: 10697)
Thành kính khẩn bạch đến chư Tôn Đức Tăng Già của quý Giáo Hội, quý Tự Viện, quý tổ chức Phật Giáo cùng toàn thể chư vị thiện nam tín nữ Phật tử: Đại Lão Hòa Thượng thượng Huyền, hạ Ấn, thế danh Hoàng Không Uẩn, sinh năm 1928 tại Quảng Bình, Việt Nam
01/11/2010(Xem: 16309)
Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 1, Chùa Pháp Hoa (2000) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 2, Chùa Pháp Bảo (2001) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 3, Chùa Linh Sơn (2002) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 4, Tu Viện Vạn Hạnh (2003) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 5, Tu Viện Quảng Đức (2004) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 6, Chùa Phổ Quang (2005) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 7, Chùa Pháp Bảo (2006) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 8, Chùa Pháp Hoa (2007) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 9, Chùa Linh Sơn (2008) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 10, Chùa Pháp Bảo (2009) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 11, Thiền Viện Minh Quang (2010) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 12, Tu Viện Quảng Đức (2011) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 13, Tu Viện Vạn Hạnh (2012) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 14, Thiền Viện Minh Quang (2013) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 15, Tu Viện Quảng Đức (2014) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 16, Chùa Pháp Pháp Bảo (2015) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 17, Tu Viện Quảng Đức (2016) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 18, Chùa Pháp Hoa (2017) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 19, Chùa Pháp Hoa (2018)
01/11/2010(Xem: 48093)
Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 1, Chùa Pháp Hoa (2000) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 2, Chùa Pháp Bảo (2001) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 3, Chùa Linh Sơn (2002) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 4, Tu Viện Vạn Hạnh (2003) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 5, Tu Viện Quảng Đức (2004) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 6, Chùa Phổ Quang (2005) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 7, Chùa Pháp Bảo (2006) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 8, Chùa Pháp Hoa (2007) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 9, Chùa Linh Sơn (2008) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 10, Chùa Pháp Bảo (2009) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 11, Thiền Viện Minh Quang (2010) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 12, Tu Viện Quảng Đức (2011) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 13, Tu Viện Vạn Hạnh (2012) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 14, Thiền Viện Minh Quang (2013) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 15, Tu Viện Quảng Đức (2014) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 16, Chùa Pháp Pháp Bảo (2015) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 17, Tu Viện Quảng Đức (2016) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 18, Chùa Pháp Hoa (2017) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 19, Chùa Pháp Hoa (2018)
29/10/2010(Xem: 10069)
Kể từ khi vết tích của chùa Thiên Mụ được ghi lại đơn sơ trong sách Ô Châu Cận Lục vào năm 1553 (1), chùa đã tồn tại gần 450 năm cho đến ngày nay. Trải qua bao nhiêu cuộc bể dâu, chùa vẫn giữ được địa vị và vẫn đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống đạo và đời của dân Huế, nói riêng, và của dân cả nước, nói chung. Qua đầu thế kỷ 17, chùa đã thực sự đi vào lịch sử sau khi Nguyễn Hoàng vào xứ đàng trong để gây dựng cơ nghiệp đế vương với huyền thoại “bà tiên mặc áo đỏ” (9).
23/10/2010(Xem: 8594)
Trong Cây Có Hoa Trong Đá Có Lửa Kính Dâng Hòa Thượng Thích Như Điển nhân dịp mừng thọ 70 tuổi của Ngài và kỷ niệm 40 năm khai sơn Chùa Viên Giác tại Đức Quốc Tỳ Kheo Thích Nguyên Tạng “Trong Cây Có Hoa, Trong Đá Có Lửa” là lời pháp ngữ của Thiền Sư Đạo Nguyên do Hòa Thượng Thích Như Điển nhắc lại trong thời giảng Pháp của Ngài mà tôi đã nghe được khi theo hầu Ngài trong chuyến đi Hoằng Pháp tại Hoa Kỳ năm 2006. Thiền Sư Đạo Nguyên (Dogen) là người Nhật, Ngài sinh năm 1200 và tịch năm 1253, thọ 53 tuổi. Ngài là Sáng Tổ của của Soto-Zen (Thiền Tào Động) của Nhật Bản, và là tác giả bộ sách nổi tiếng “Chánh Pháp Nhãn Tạng” “Ki no naka ni, hana ga aru (Trong cây có hoa), Ishi no naka ni, hi ga aru (Trong đá có lửa)” Đó là pháp ngữ của Thiền Sư Đạo Nguyên (Dogen), được Hòa Thượng Như Điển dịch sang lời Việt. Lời thơ quá tuyệt vời, tuy ngắn gọn nhưng dung chứa cả một kho tàng giáo lý về Nhân Duyên Quả của Đạo Phật.
23/10/2010(Xem: 8706)
Trong mười thế kỷ phong kiến Việt Nam, Trần Nhân Tông là một trong những ông vua giỏi và tài hoa bậc nhất. Lịch sử đã xem ông là “vị vua hiền” đời Trần, có công lớn trong sự nghiệp trùng hưng đất nước. Văn học sẽ nhớ mãi ông bởi những vần thơ thanh nhã, sâu sắc và không kém hào hùng.
23/10/2010(Xem: 8506)
Về sự nghiệp của vua Trần Nhân Tông, đã có rất nhiều tài liệu và bài viết về hai lần lãnh đạo quân dân nước ta đánh thắng giặc Mông - Nguyên, trị quốc an dân, đối ngoại và mở cõi, nên ở đây chúng tôi không lặp lại nữa, mà chỉ đề cập đôi nét đến nội dung khác về: Trần Nhân Tông - một hoàng đế xuất gia, một thiền sư đắc đạo và là sơ tổ lập nên dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử độc đáo của Việt Nam.
23/10/2010(Xem: 8358)
Hội Phật Học Nam Việt được thành lập vào năm 1950 tại Sài Gòn do sự vận động của cư sĩ Mai Thọ Truyền. Ban đầu, hội đặt trụ sở tại chùa Khánh Hưng, và sau đó ít lâu, tại chùa Phước Hòa. Bác sĩ Nguyễn Văn Khỏe, một cây cột trụ của hội Lưỡng Xuyên Phật Học cũ đảm nhận trách vụ hội trưởng. Ông Mai Thọ Truyền giữ trách vụ tổng thư ký. Các thiền sư Quảng Minh và Nhật Liên đã triệt để ủng hộ cho việc tổ chức hội Phật Học Nam Việt. Thiền sư Quảng Minh được bầu làm hội trưởng của hội bắt đầu từ năm 1952. Năm 1955, sau khi thiền sư Quảng Minh đi Nhật du học, ông Mai Thọ Truyền giữ chức vụ hội trưởng. Chức vụ này ông giữ cho đến năm 1973, khi ông mất. Hội Phật Học Nam Việt được thành lập do nghị định của Thủ Hiến Nam Việt ký ngày 19.9.1950. Bản tuyên cáo của hội có nói đến nguyện vọng thống nhất các đoàn thể Phật giáo trong nước. Bản tuyên cáo viết: "Đề xướng việc lập hội Phật học này. Chúng tôi còn có cái thâm ý đi đến chỗ Bắc Trung Nam sẽ bắt tay trên nguyên tắc cũng như trong hành động. Sự