Rạng Ngời Chân Dung (Thành kính tưởng niệm Sư Bà Chơn Hiền)

01/04/202311:37(Xem: 2642)
Rạng Ngời Chân Dung (Thành kính tưởng niệm Sư Bà Chơn Hiền)
su ba chon hien (7)


Rạng Ngời Chân Dung.


Hương bay về chốn quê xưa,
Thầy đi vào cõi, chơn thừa Phật tâm.
Trăm năm một nguyện sắc âm.
Tỉnh chân tu bước, lặng thầm thiền ca.

Chín bốn năm chốn hà sa,
Nương dòng thiền pháp, tịnh toà chân tu.
Giữ gìn tám pháp tâm từ,
Nương hành mật niệm, chân như trọn đời.

Sáu bảy năm giới thảnh thơi,
Ca sa pháp phục, đắt lời di ngôn.
Tụng kinh vọng tiếng sớm hôm,
Tụng trì hoa pháp, tâm hồn an nhiên.

Xuất gia tuổi nhỏ Diệu Viên,
Nương từ Diệu Đức, luật nghiêm hành trì.
Đại Ninh niệm Phật dung nghi,
Tinh tu phạm hạnh, khắc ghi Bồ đề.

Chơn Không chẳng bận nhiêu Khê,
Noi gương tôn trưởng, quay về Cố Đô.
Trụ trì Diệu Hỷ chuyên lo,
Nương câu kinh luật, chuyến đò qua sông.

Chơn Hiền truyền giới thong Dong,
Chơn Hiền trì mật, sắc không vô thường,
Trăm năm trong chốn mộng trường,
Trăm năm tự tại, muôn phương du hành.

Mây ngàn trăng ẩn huyền thanh,
Nắng mưa cát bụi, xanh xanh giữa đời.
Sư đi về bến tịch thời,
Sư về Tịnh Độ, rạng ngời chân dung.


su ba chon hien (7)
su ba chon hien (6)su ba chon hien (5)su ba chon hien (4)su ba chon hien (3)su ba chon hien (2)su ba chon hien (1)

su ba chon hien (8)
Niềm ký ức:
Chúng con, nhớ giác linh xưa, trong những chuổi Hạ tại chốn Tổ Diệu Viên, về đây dâng cúng quá đường cho chư tôn Đức ni, thì chúng con được phép hầu chuyện, những lời dạy vẫn còn trong tâm trí.
Ni trưởng dạy rằng:
“ Tu trong từng ý niệm, là hạnh nguyện xuất gia, giữ tâm Bồ đề thanh tịnh ấy là nét thiền gia. Vì chư vị ngàn xưa giữ gìn bát kỉnh pháp như vậy, nên lúc nào cũng tuân hành y giáo các bậc trưởng túc Tăng..”
Ni trưởng dạy tiếp:
“ Sống trong thiền môn mà quên đi tâm đại nguyện phụng trì giới luật, thì mãi mãi là kẻ cùng tử lang thang, vì luật là gốc cho chúng ta tiếng về Bồ đề nguyện, Bồ đề hạnh, Bồ đề tâm an trú trong mọi vật xung quanh…! “
Những lời dạy tuy mộc, nhưng ẩn chứa những giá trị chân tu.
Chúng con, vọng bái giác linh Sư trưởng, bậc Ni lưu trong chốn môn phong Từ Hiếu, từ Đức hạnh đến giới nghiêm luôn luôn giữ gìn đúng khuông thước.
Chúng con ở xa, chỉ có vòng hoa tâm dâng lên giác linh Sư Trưởng, nguyện giác linh Sư trưởng chứng giám.
     Do niên cao lạp trưởng, sau một thời gian biểu hiện bệnh duyên, Ni Trưởng đã xả báo an tường, thu thần viên tịch vào lúc 01 giờ, ngày 25 tháng 03 năm 2023 (nhằm ngày mồng 04 tháng 02 nhuận năm Quý Mão tại chùa Diệu Viên, phường Thủy Dương, thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế, trụ thế 94 tuổi đời, 67 hạ lạp.
       Nam Mô Tự Lâm Tế Chánh Tôn, tứ thập tam thế, Từ Hiếu pháp phái, Diệu Viên, Diệu Hỷ trú trì, Huý Thượng Tâm hạ Đức, hiệu Chơn Hiền Giác linh Ni trưởng thuỳ từ chứng giám.

Hà Nội ngày, 08-02 nhuận - Quý Mão.
                 Tk: Thích Minh Thế
                 Bút danh: Hỷ Tâm Hải Triều.
                 Bút hiệu: Tịnh Nhật Vân Quang.
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
23/10/2010(Xem: 8890)
Trong Cây Có Hoa Trong Đá Có Lửa Kính Dâng Hòa Thượng Thích Như Điển nhân dịp mừng thọ 70 tuổi của Ngài và kỷ niệm 40 năm khai sơn Chùa Viên Giác tại Đức Quốc Tỳ Kheo Thích Nguyên Tạng “Trong Cây Có Hoa, Trong Đá Có Lửa” là lời pháp ngữ của Thiền Sư Đạo Nguyên do Hòa Thượng Thích Như Điển nhắc lại trong thời giảng Pháp của Ngài mà tôi đã nghe được khi theo hầu Ngài trong chuyến đi Hoằng Pháp tại Hoa Kỳ năm 2006. Thiền Sư Đạo Nguyên (Dogen) là người Nhật, Ngài sinh năm 1200 và tịch năm 1253, thọ 53 tuổi. Ngài là Sáng Tổ của của Soto-Zen (Thiền Tào Động) của Nhật Bản, và là tác giả bộ sách nổi tiếng “Chánh Pháp Nhãn Tạng” “Ki no naka ni, hana ga aru (Trong cây có hoa), Ishi no naka ni, hi ga aru (Trong đá có lửa)” Đó là pháp ngữ của Thiền Sư Đạo Nguyên (Dogen), được Hòa Thượng Như Điển dịch sang lời Việt. Lời thơ quá tuyệt vời, tuy ngắn gọn nhưng dung chứa cả một kho tàng giáo lý về Nhân Duyên Quả của Đạo Phật.
23/10/2010(Xem: 8808)
Trong mười thế kỷ phong kiến Việt Nam, Trần Nhân Tông là một trong những ông vua giỏi và tài hoa bậc nhất. Lịch sử đã xem ông là “vị vua hiền” đời Trần, có công lớn trong sự nghiệp trùng hưng đất nước. Văn học sẽ nhớ mãi ông bởi những vần thơ thanh nhã, sâu sắc và không kém hào hùng.
23/10/2010(Xem: 8621)
Về sự nghiệp của vua Trần Nhân Tông, đã có rất nhiều tài liệu và bài viết về hai lần lãnh đạo quân dân nước ta đánh thắng giặc Mông - Nguyên, trị quốc an dân, đối ngoại và mở cõi, nên ở đây chúng tôi không lặp lại nữa, mà chỉ đề cập đôi nét đến nội dung khác về: Trần Nhân Tông - một hoàng đế xuất gia, một thiền sư đắc đạo và là sơ tổ lập nên dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử độc đáo của Việt Nam.
23/10/2010(Xem: 8436)
Hội Phật Học Nam Việt được thành lập vào năm 1950 tại Sài Gòn do sự vận động của cư sĩ Mai Thọ Truyền. Ban đầu, hội đặt trụ sở tại chùa Khánh Hưng, và sau đó ít lâu, tại chùa Phước Hòa. Bác sĩ Nguyễn Văn Khỏe, một cây cột trụ của hội Lưỡng Xuyên Phật Học cũ đảm nhận trách vụ hội trưởng. Ông Mai Thọ Truyền giữ trách vụ tổng thư ký. Các thiền sư Quảng Minh và Nhật Liên đã triệt để ủng hộ cho việc tổ chức hội Phật Học Nam Việt. Thiền sư Quảng Minh được bầu làm hội trưởng của hội bắt đầu từ năm 1952. Năm 1955, sau khi thiền sư Quảng Minh đi Nhật du học, ông Mai Thọ Truyền giữ chức vụ hội trưởng. Chức vụ này ông giữ cho đến năm 1973, khi ông mất. Hội Phật Học Nam Việt được thành lập do nghị định của Thủ Hiến Nam Việt ký ngày 19.9.1950. Bản tuyên cáo của hội có nói đến nguyện vọng thống nhất các đoàn thể Phật giáo trong nước. Bản tuyên cáo viết: "Đề xướng việc lập hội Phật học này. Chúng tôi còn có cái thâm ý đi đến chỗ Bắc Trung Nam sẽ bắt tay trên nguyên tắc cũng như trong hành động. Sự
23/10/2010(Xem: 7979)
Cư sĩ Mai Thọ Truyền sinh ngày 01-4-1905 tại làng Long Mỹ, tỉnh Bến Tre trong một gia đình trung lưu. Thuở nhỏ ông được theo học tại trường Sơ học Pháp - Việt Bến Tre, rồi Trung học Mỹ Tho, và Chasseloup Laubat Saigon. Năm 1924, ông thi đậu Thư ký Hành chánh và được bổ đi làm việc tại Sài Gòn, Hà Tiên, Chợ Lớn. Năm 1931, ông thi đậu Tri huyện và đã tùng sự tại Sài Gòn, Trà Vinh, Long Xuyên và Sa Đéc. Hành nhiệm ở đâu cũng tỏ ra liêm khiết, chính trực và đức độ, không xu nịnh cấp trên, hà hiếp dân chúng, nên được quý mến.
23/10/2010(Xem: 13005)
Trong lịch sử dựng nước, giữ nước và xây dựng, bảo vệ Tổ quốc của dân tộc Việt Nam, vương triều Trần (1226-1400) được tôn vinh là triều đại sáng chói nhất thể hiện qua những chiến công hiển hách thắng giặc ngoại xâm cũng như chính sách hộ quốc an dân đã tổng hợp được sức mạnh của toàn dân ta cùng với vua quan trong việc bảo vệ và phát triển đất nước vô cùng tốt đẹp.
23/10/2010(Xem: 22005)
Nhiều thế kỷ trước, một vị vua đã lãnh đạo dân tộc Việt Nam hai lần đẩy lui quân Mông Cổ xâm lăng. Một hôm, vào năm 1293, vị vua anh hùng này đã rời ngôi vua, và vài năm sau trở thành một nhà sư và đã để lại một di sản Thiền Tông bây giờ vẫn còn phát triển để trở thành dòng Thiền lớn nhất tại Việt Nam. Ngài tên là Trần Nhân Tông, vị vua thứ ba của Nhà Trần và là vị sáng lập Dòng Thiền Trúc Lâm.
22/10/2010(Xem: 26782)
Vào khoảng các năm 1972–1974, Cố Hòa thượng Thích Trí Thủ, thường được Tăng Ni-Phật tử gọi cung kính gần gũi là “Ôn Già Lam”, đang trong thời gian dài hoằng pháp tại Nha Trang và các tỉnh miền Trung, Ôn tạm an trú trên chùa Hải Đức, nơi có Phật học viện Trung Phần, trên ngọn đồi Trại Thủy. Khoảnh vườn và thềm hiên phía trước tịnh thất của Ôn dần dà trở thành một hoa viên nho nhỏ với nhiều cây cảnh hoa lá đẹp lạ, là nhờ ở bàn tay chăm sóc thương yêu của một vị cao tăng đức độ nhân từ.
22/10/2010(Xem: 9328)
Chuông ngân chùa xẩm nắng Hương quyện áo tràng bay Trăm tám vì sao rạng Xoay tròn đôi 1óng tay Mười phương cây lặng gió Năm sắc hồ trôi mây Làn nước lên đầu núi Ánh vàng tràn đó đây.
21/10/2010(Xem: 10403)
Trong cõi nhân gian mịt mù tăm tối vì vô minh và phiền não, sự xuất hiện của một bậc chân tu đạo hạnh để dìu dắt con người trên đường tìm về giác ngộ và giải thoát, quả thật không khác gì một vì sao sáng trên bầu trời làm định hướng cho lữ hành trong đêm tối. Trong ý nghĩa này, Cố Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Trí Chơn là một vì tinh tú sáng rực.