Rạng Ngời Chân Dung (Thành kính tưởng niệm Sư Bà Chơn Hiền)

01/04/202311:37(Xem: 2681)
Rạng Ngời Chân Dung (Thành kính tưởng niệm Sư Bà Chơn Hiền)
su ba chon hien (7)


Rạng Ngời Chân Dung.


Hương bay về chốn quê xưa,
Thầy đi vào cõi, chơn thừa Phật tâm.
Trăm năm một nguyện sắc âm.
Tỉnh chân tu bước, lặng thầm thiền ca.

Chín bốn năm chốn hà sa,
Nương dòng thiền pháp, tịnh toà chân tu.
Giữ gìn tám pháp tâm từ,
Nương hành mật niệm, chân như trọn đời.

Sáu bảy năm giới thảnh thơi,
Ca sa pháp phục, đắt lời di ngôn.
Tụng kinh vọng tiếng sớm hôm,
Tụng trì hoa pháp, tâm hồn an nhiên.

Xuất gia tuổi nhỏ Diệu Viên,
Nương từ Diệu Đức, luật nghiêm hành trì.
Đại Ninh niệm Phật dung nghi,
Tinh tu phạm hạnh, khắc ghi Bồ đề.

Chơn Không chẳng bận nhiêu Khê,
Noi gương tôn trưởng, quay về Cố Đô.
Trụ trì Diệu Hỷ chuyên lo,
Nương câu kinh luật, chuyến đò qua sông.

Chơn Hiền truyền giới thong Dong,
Chơn Hiền trì mật, sắc không vô thường,
Trăm năm trong chốn mộng trường,
Trăm năm tự tại, muôn phương du hành.

Mây ngàn trăng ẩn huyền thanh,
Nắng mưa cát bụi, xanh xanh giữa đời.
Sư đi về bến tịch thời,
Sư về Tịnh Độ, rạng ngời chân dung.


su ba chon hien (7)
su ba chon hien (6)su ba chon hien (5)su ba chon hien (4)su ba chon hien (3)su ba chon hien (2)su ba chon hien (1)

su ba chon hien (8)
Niềm ký ức:
Chúng con, nhớ giác linh xưa, trong những chuổi Hạ tại chốn Tổ Diệu Viên, về đây dâng cúng quá đường cho chư tôn Đức ni, thì chúng con được phép hầu chuyện, những lời dạy vẫn còn trong tâm trí.
Ni trưởng dạy rằng:
“ Tu trong từng ý niệm, là hạnh nguyện xuất gia, giữ tâm Bồ đề thanh tịnh ấy là nét thiền gia. Vì chư vị ngàn xưa giữ gìn bát kỉnh pháp như vậy, nên lúc nào cũng tuân hành y giáo các bậc trưởng túc Tăng..”
Ni trưởng dạy tiếp:
“ Sống trong thiền môn mà quên đi tâm đại nguyện phụng trì giới luật, thì mãi mãi là kẻ cùng tử lang thang, vì luật là gốc cho chúng ta tiếng về Bồ đề nguyện, Bồ đề hạnh, Bồ đề tâm an trú trong mọi vật xung quanh…! “
Những lời dạy tuy mộc, nhưng ẩn chứa những giá trị chân tu.
Chúng con, vọng bái giác linh Sư trưởng, bậc Ni lưu trong chốn môn phong Từ Hiếu, từ Đức hạnh đến giới nghiêm luôn luôn giữ gìn đúng khuông thước.
Chúng con ở xa, chỉ có vòng hoa tâm dâng lên giác linh Sư Trưởng, nguyện giác linh Sư trưởng chứng giám.
     Do niên cao lạp trưởng, sau một thời gian biểu hiện bệnh duyên, Ni Trưởng đã xả báo an tường, thu thần viên tịch vào lúc 01 giờ, ngày 25 tháng 03 năm 2023 (nhằm ngày mồng 04 tháng 02 nhuận năm Quý Mão tại chùa Diệu Viên, phường Thủy Dương, thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế, trụ thế 94 tuổi đời, 67 hạ lạp.
       Nam Mô Tự Lâm Tế Chánh Tôn, tứ thập tam thế, Từ Hiếu pháp phái, Diệu Viên, Diệu Hỷ trú trì, Huý Thượng Tâm hạ Đức, hiệu Chơn Hiền Giác linh Ni trưởng thuỳ từ chứng giám.

Hà Nội ngày, 08-02 nhuận - Quý Mão.
                 Tk: Thích Minh Thế
                 Bút danh: Hỷ Tâm Hải Triều.
                 Bút hiệu: Tịnh Nhật Vân Quang.
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
27/03/2013(Xem: 18067)
Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư, Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 01 (2007, Canada) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 02 (2008, Hoa Kỳ) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 03 (2019, Hoa Kỳ) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 04 (2010, Đức) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 05 (2011, Pháp) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 06 (2012, Úc) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 07 (2013, Hoa Kỳ) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 08 (2014, Úc) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 09 (2015, Pháp) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 10 (2016, Canada) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 11 (2018, Pháp) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 12 (2020, Úc)
18/03/2013(Xem: 8596)
Viện Đại học Vạn Hạnh ở Sài Gòn, thủ đô miền Nam Việt Nam, trước năm 1975 là một trung tâm văn hóa Phật giáo nổi tiếng lừng lẫy. Nơi đây đã quy tụ biết bao hào kiệt trượng phu, biết bao tao nhân mặc khách, biết bao giáo sư, triết gia cự phách thượng đẳng. Đặc biệt là các thiên tài xuất chúng siêu việt như Phạm Công Thiện, Tuệ Sỹ, Lê Mạnh Thát, nổi bật nhất là Bùi Giáng, một thi sĩ kỳ dị, xưa nay chưa từng thấy xuất hiện trên bầu trời văn nghệ Việt Nam và thế giới.
11/03/2013(Xem: 8776)
Lê Quý Đôn (1726-1784) là một danh sĩ, nhà văn hóa, sử gia, sống vào đời Hậu Lê. Ông không những ba lần thi đều đỗ đầu, kinh qua nhiều chức quan, đã từng đi sứ sang Trung Quốc, mà còn là một nhà bác học, đã để lại một gia tài đồ sộ bao gồm khoảng 16 tác phẩm và nhiều thơ, phú bằng chữ Nôm khác. [1] Trong số những tác phẩm ấy, có Kiến văn tiểu lục, [2] là một tác phẩm dành riêng quyển 9 – thiên Thiền dật, để viết về Phật giáo và Thiền tông Phật giáo Việt Nam, chủ yếu là những vị Tổ thuộc Thiền phái Trúc lâm. Trong bài viết ngắn này, chúng ta thử chỉ tìm hiểu quan điểm của Lê Quý Đôn về Phật giáo, mà không bàn sâu đến phần Thiền tông Việt Nam mà ông đã chép.
21/02/2013(Xem: 9730)
Hòa thượng Thích Tâm Giác, thế danh là Trần Văn Mỹ, sinh năm 1917 tại tỉnh Nam Định, thân phụ là cụ ông Trần Văn Quý, thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Suôi. Ngài là con trai thứ hai trong gia đình gồm hai trai một gái. Ngài sinh trưởng trong một gia đình Nho phong. Thân phụ Ngài tinh thông Hán học. Cả hai ông bà lại rất thâm tín Phật pháp. Do đó, Ngài được hấp thụ ngay từ thuở ấu thơ hai nền văn hóa cổ truyền của dân tộc là Khổng giáo và Phật giáo.
19/02/2013(Xem: 11509)
Mới đây các nhà khảo cổ Mỹ và Canada đưa ra chứng cứ cho rằng Phật giáo đã được truyền vào Mỹ trước khi ông Columbus tìm ra châu Mỹ. Tuy nhiên, theo các tài liệu có được hiện nay thì Phật giáo chỉ thật sự có mặt tại Mỹ sau kỳ Đại hội Tôn giáo Thế giới tổ chức tại bang Chicago vào năm 1893. Nhưng ai là người có công truyền bá và làm lớn mạnh "hạt giống Bồ đề" trên đất Mỹ? Trong bài này, chúng tôi sẽ giới thiệu một số nhà sư cư sĩ người châu Á, những người tiên phong có công đặt nền móng xây dựng ngôi nhà chánh pháp trên đất Mỹ.
10/02/2013(Xem: 13104)
Từ những con người bình thường, không được sinh ra ở cung vàng điện ngọc, nhưng rồi trở thành những vị vua anh minh tài kiêm văn võ, tư tưởng và nhân cách cao siêu, mãi còn đọng lại với thời gian. Dù sống ở hoàng cung nhưng tâm lúc nào cũng vượt thoát, làm bậc đế vương nhưng hạnh vẫn là một sơn Tăng, ưa vui với gió nội mây ngàn, thở nhịp cùng đất trời nhân gian cây cỏ. Để rồi trở thành những người con Phật vĩ đại, trí tuệ và công hạnh thắm đượm cả không gian, thức tỉnh chúng ta trên bến bờ sinh tử của mê ngộ, đậm nét trong lòng người đến tận hôm nay. Bồ Tát Lương Võ Đế ( 463-549 ) của Trung Hoa và Trần Thái Tông ( 1218-1277) của Việt Nam, dù ở hai phương trời xa cách, sinh ra ở hai thời điểm khác nhau, nhưng cùng chung một tấm lòng, mang an lạc thịnh vượng đến cho nhân dân, và một hạnh nguyện chuyển hoá cứu độ quần sanh.
07/02/2013(Xem: 24268)
Nửa thế kỷ Tôn Sư vắng bóng, Ánh Đạo Vàng tỏa rộng muôn phương Hôm nay tổ chức huy hoàn Hằng năm kỷ niệm, đàn tràng tôn nghiêm. Môn đồ Tứ chúng ngưỡng chiêm,
06/02/2013(Xem: 10338)
Hòa thượng Bích Liên, thế danh là Nguyễn Trọng Khải, hiệu Mai Đình (Thận Thần Thị), sinh ngày 16 tháng 3 năm Bính Tý (1876), tại làng Háo Đức, phủ An Nhơn, nay là ấp Háo Đức, xã Nhơn An, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. Ngài sinh trưởng trong một gia đình nho học, được theo nghiệp bút nghiên từ nhỏ. Cha là Tú Tài Nguyễn Tự, mẹ là bà Lâm Thị Hòa Nghị . Năm 20 tuổi, Ngài lập gia đình với cô Lê Thị Hồng Kiều, người làng An Hòa, (nay thuộc xã Nhơn Khánh cùng huyện). Năm 31 tuổi, Ngài lều chõng vào trường thi Hương Bình Định và đỗ Tú Tài. Ba năm sau, Ngài lại đỗ Tú Tài lần nữa. Từ đó, biết mình long đong trên bước đường khoa bảng, Ngài giã từ lều chõng, ở nhà mở trường dạy học, mượn trăng thanh gió mát di dưỡng tính tình, lấy chén rượu câu thơ vui cùng tuế nguyệt.
03/02/2013(Xem: 8675)
Tuệ Sỹ là ai mà thơ hào sảng, hùng tâm tráng khí như thế ? Tuệ Sỹ quê Quảng Bình, sinh năm 1943, nhỏ hơn Phạm Công Thiện 2 tuổi, cũng là một bậc thiên tài xuất chúng, làu thông kinh điển Nguyên thủy, Đại thừa và nhiều thứ tiếng Anh, Pháp, Đức, Hán, Phạn, Pali. Khi mới vừa 26 tuổi đã viết Triết học về Tánh Không làm chấn động giới văn nghệ sĩ, học giả, thiện tri thức Việt Nam thời bấy giờ.
20/01/2013(Xem: 8594)
Phạm Công Thiện(1/6/1941 - 8/3/2011), là một nhà văn, triết gia, học giả, thi sĩ và cư sĩ Phật Giáo người Việt Nam với pháp danh Thích Nguyên Tánh. Tuy nhận mình là nhà thơ và phủ nhận nghề triết gia, ông vẫn được coi là một triết gia thần đồng, một hiện tượng dị thường của Sài Gòn thập niên 60 và của Việt Nam với những tư tưởng ít người hiểu và được bộc phát từ hồi còn rất trẻ. Dưới đây là bài viết của Tâm Nhiên nhân sắp đến ngày giỗ của ông.