Nụ Cười Thiền Sư (Kính tưởng niệm Sư Ông Làng Mai)

23/01/202219:11(Xem: 6099)
Nụ Cười Thiền Sư (Kính tưởng niệm Sư Ông Làng Mai)

su ong nhat hanh 9


Nụ Cười Thiền Sư.


Mây Bay Giữa Chốn Địa Đàng,
Mưa Rơi Tiễn Góc, Y Vàng Thiền Tăng.
Dương Xuân Ước Hạt Vầng Trăng,
Lắng Nghe Trượng Thất, Giữa Tầng Hư Không.

Uy Nguyên Nhiếp Niệm Cõi Lòng,
Sư Ông Từ Giã, Trần Hồng Thế Gian.
Cố Đô Xứ Huế Hương Tang,
Vàng Thanh Nâu Trắng, Dịu Dàng Lặng Yên.

Thực Tập Chánh Niệm Phật Truyền,
Sư Ông Nhất Hạnh, Khơi Duyên Trở Về.
Tăng Thân Khắp Chốn Tỉnh Mê,
Dụng Hơi Thở Nhẹ, Trên Quê Hương Mình.

Quán Âm Vọng Tiếng Triều Kinh,
Bé Thơ Hiện Hữu, Chút Tình Trăm Năm.
Đường Mây Không Diệt Ta Nằm,
Không Sinh Hoán Chuyển, Chúng Tăng Lưu Truyền.

Làng Mai Khai Kiến Đạo Tràng,
Kim Sơn- Lục Uyển, Chuông Ngân Thiền Hành.
Năm Châu Khắp Chốn Tôn Danh,
Hoà Bình Trình Kiến, Niệm Thành Đại Bi.

Hoá Nguyện Ký Tất Ra Đi,
Ôm Tâm Tịnh Độ, Dung Nghi Tình Thầy.
Trăm Năm Dấu Ngọc Phơi Bầy,
Thi Âm, Dịch Chú, Kinh Này Truyền Lưu.

Đèn Thiền Truyền Kệ Chân Tu,
Dòng Chân- Tiếp Thiện, Dáng Từ Pháp Âm.
Hoá Ra Hạt Nắng Nhã Thầm,
Hoá Vô Biên Cõi, Phương Ngàn Bối Am.

Bây Chừ Tịnh Độ Hương Ban,
Di Đà Thánh Chúng, Rải Ngàn Hương Thơm.
Chốn Từ Hiếu, Dưỡng Am Thân,
Từ Sơ Tâm Học, Chứng Phần Vô Sanh.

Quê Hương Nước Việt Ghi Danh,
Phương Tây Truyền Pháp, Âm Thanh Ngàn Đời.
Sư Ông Nhất Hạnh Thảnh Thơi,
Xã Buông Thân Huyễn, Nụ Cười Thiền Sư.
      Duyên Xưa Trùng Phùng:
     Chúng con, Hàng hậu học kính dâng lên Sư Bá Trừng Quang- Phùng Xuân- Hiệu Nhất Hạnh Trưởng Lão Thiền Sư Tăng.
     Đêm Khuya chuông ngân vọng, từ Chốn Tổ Đình, Chư huynh đệ Tông Môn Chốn Từ Hiếu Tổ Đình, kính báo là Sư Ông Nhẹ Góc Trong Chánh Niệm, Ký Tất Tịnh Độ, Quy Tịch Trăm Năm, Chúng con hạnh phúc khi được làm người hậu học trong con cháu chốn Tổ Đình Từ Hiếu, học pháp một thời, lắng nghe Duy Thức Học, Mà Sư Bá truyền dạy từ xứ Mỹ, Xứ Pháp lang truyền về Chốn Tổ.
      Chúng con, học được Pháp Hoa, từ sâu trong Chánh niệm, thực hành nghi thức Thiền Môn, nuôi dưỡng tâm tánh thiện chủng xuất gia, học và thực hành pháp môn bé thơ xuất hiện giữa dòng thế gian.

       一心頂禮嗣臨濟正宗第四十二代,了觀法脈第八世,慈孝寺住持,芳雲庵,法雲寺開山,國際梅村道場,清山道場,鹿菀道場禪主,避釋上澄下光字逢春號一行禪師阮公大和尚覺靈新圓寂.

Nhất tâm đảnh lễ Tân Viên Tịch, Tự Lâm Tế Tông Tứ Thập Nhị Thế, Liễu Quán Pháp Phái Đệ Bát Thế, Từ Hiếu Tổ Đình Niên Trưởng Trú Trì, Mai Thôn Đạo Tràng Quốc Tế Khai Sơn, Huý Thượng Trừng Hạ Quang, Tự Phùng Xuân, Hiệu Nhất Hạnh Thiền Sư, Nguyễn Công Hoà Thượng Giác Linh.

                 Tk: Thích Minh Thế
                 Bút danh: Hỷ Tâm Hải Triều.
                 Bút hiệu: Tịnh Nhật Vân Quang
                 Ngày 22-01-2022
                 Ngày Âm Lịch: 20-12-Tân Sửu.
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/08/2011(Xem: 7490)
Nghiệm sinh nửa thế kỷ trên cõi đời, Trần Nhân Tông (1258-1308) đã có những đóng góp xuất sắc vào lịch sử chống ngoại xâm, xây dựng đất nước, phát triển tư tưởng Phật giáo dân tộc và là một trong những tác giả đi đầu trong việc sáng tác thơ phú bằng chữ Hán và chữ Nôm.
09/08/2011(Xem: 7593)
Vua Trần Nhân Tông (1258-1308) sau khi khoác tăng bào ở tuổi 40 đã chu du khắp nơi để thuyết pháp, giảng kinh, khuyên dân chúng giữ gìn mười điều lành, và từng trở về kinh đô Thăng Long tổ chức lễ thụ Bồ tát giới cho vua Trần Anh Tông và quan lại triều đình.
09/08/2011(Xem: 8594)
'Vậy là đã 700 năm, 7 thế kỷ trôi qua từ khi Đức Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông viên tịch, thể nhập vào niết bàn an nhiên tự tại. Cả dân tộc Việt Nam đều được biết đến Ngài là một bậc quân vương anh minh của đất nước Đại Việt, mà cũng là một vị Sơ Tổ của dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử. Nói đúng hơn, Ngài là một vị “Vua Phật” của Việt Nam.
08/08/2011(Xem: 7551)
Lễ húy nhật cố Hòa thượng Thích Phước Huệ (1875 - 1963) - chùa Hải Đức
08/08/2011(Xem: 8454)
"Vì sao Thượng hoàng Trần Nhân Tông không ở lại Vũ lâm hay lựa chọn một nơi nào khác trên đất nước Đại Việt mà lại chọn Yên Tử để tu hành?" - Câu hỏi được phần nào lý giải trong tham luận của Nguyễn Trần Trương (Phó Ban Dân tộc tỉnh Quảng Ninh) trong Hội thảo tưởng niệm 700 năm ngày Đức vua
07/08/2011(Xem: 16911)
Nói đến tinh thần "Hòa quang đồng trần" tức là nói đến tinh thần nhập thế của đạo Phật, lấy ánh sáng của đức Phật để thắp sáng trần gian, “sống trong lòng thế tục, hòa ánh sáng của mình trong cuộc đời bụi bặm”, và biết cách biến sứ mệnh đạo Phật thành lý tưởng phụng sự cho đời, giải thoát khổ đau cho cá nhân và xã hội. Thời đại nhà Trần và đặc biệt vua Trần Nhân Tông (1258-1308) đã làm được điều này thành công rực rỡ, mở ra trang sử huy hoàng cho dân tộc.
04/08/2011(Xem: 8534)
Hòa thượng Thích Bích Lâm, nguyên Phó Viện trưởng Viện Hoằng đạo, Giáo hội Phật giáo Cổ truyền Việt Nam; nguyên Chánh Đại Diện GHPGCT Trung phần, Tổ thứ 3 Tổ đình Nghĩa Phương, Tổ Khai sơn các chùa thuộc Tông phong Tổ đình Nghĩa Phương, Tông trưởng Tông phong Tổ đình Nghĩa Phương (1921 - 1972).
30/07/2011(Xem: 9836)
Thế danh: Nguyễn Đình Mân, Pháp danh: Thị Uẩn, Pháp tự: Hạnh Đạo, Pháp hiệu: Thuần Phong, Đời thứ 42 thuộc dòng Thiền Lâm Tế.
28/07/2011(Xem: 8093)
Hòa Thượng Thích Đạt Hảo, Hòa thượng Thích Đạt Hảo thế danh Lê Văn Bân, pháp danh Tánh Tướng, pháp hiệu Đạt Hảo, sanh năm Đinh Tỵ (1917), tại ấp Bình Hữu, xã Đức Hòa Thượng, huyện Đức Hòa, tỉnh Gia Định (1). Sư là con út trong gia đình có 6 anh chị em, 2 người trai bốn người gái; đặc biệt cả nhà có 8 người đều lần lượt xuất gia tu hành: -Phụ thân Lê Văn Bộn (1876- 1943), pháp danh Tánh Từ, pháp hiệu Đạt Bi. -Mẫu thân Ngô Thị Cờ (1884-1941), pháp danh Tánh Niệm, pháp hiệu Đạt Phật. -Chị thứ 2 Lê Thị Tình (1901-1970), pháp danh Tánh Hóa, pháp hiệu Đạt Đạo. -Chị thứ 3 Lê Thị Ưa (1904- ?) pháp danh Tánh Viên, pháp hiệu Đạt Thông. -Chị thứ 4: Lê Thị Luận (1907- ?), pháp danh Tánh Minh, pháp hiệu Đạt Quang. Chị thứ 5 Lê Thị Nghị (1909- ?), pháp danh Tánh Hồng, pháp hiệu Đạt Tâm -Anh thứ 6 Lê Văn Kỉnh (1915-1962), pháp danh Tánh Kỉnh, Pháp hiệu Đạt Xương. -Em út là Hòa thượng Thích Đạt Hảo.
15/07/2011(Xem: 9145)
Thiền sư húy thượng NGUYÊN hạ BÀNG - ĐẠI NGUYỆN tự CHÍ NĂNG hiệu GIÁC HOÀNG , thế danh LÊ BẢN, sinh năm Canh Dần 1950, tại thôn An Ngãi, xã Nhơn An huyện An Nhơn tỉnh Bình Định. Ngài sinh trong một gia đình nhiều đời sùng kính Tam Bảo. Thân phụ: Cụ ông LÊ TRÀ, thân mẫu: Cụ Bà TRẦN THỊ TÁM. Ngài là anh cả trong gia đình gồm có năm người con.