Nụ Cười Thiền Sư (Kính tưởng niệm Sư Ông Làng Mai)

23/01/202219:11(Xem: 6687)
Nụ Cười Thiền Sư (Kính tưởng niệm Sư Ông Làng Mai)

su ong nhat hanh 9


Nụ Cười Thiền Sư.


Mây Bay Giữa Chốn Địa Đàng,
Mưa Rơi Tiễn Góc, Y Vàng Thiền Tăng.
Dương Xuân Ước Hạt Vầng Trăng,
Lắng Nghe Trượng Thất, Giữa Tầng Hư Không.

Uy Nguyên Nhiếp Niệm Cõi Lòng,
Sư Ông Từ Giã, Trần Hồng Thế Gian.
Cố Đô Xứ Huế Hương Tang,
Vàng Thanh Nâu Trắng, Dịu Dàng Lặng Yên.

Thực Tập Chánh Niệm Phật Truyền,
Sư Ông Nhất Hạnh, Khơi Duyên Trở Về.
Tăng Thân Khắp Chốn Tỉnh Mê,
Dụng Hơi Thở Nhẹ, Trên Quê Hương Mình.

Quán Âm Vọng Tiếng Triều Kinh,
Bé Thơ Hiện Hữu, Chút Tình Trăm Năm.
Đường Mây Không Diệt Ta Nằm,
Không Sinh Hoán Chuyển, Chúng Tăng Lưu Truyền.

Làng Mai Khai Kiến Đạo Tràng,
Kim Sơn- Lục Uyển, Chuông Ngân Thiền Hành.
Năm Châu Khắp Chốn Tôn Danh,
Hoà Bình Trình Kiến, Niệm Thành Đại Bi.

Hoá Nguyện Ký Tất Ra Đi,
Ôm Tâm Tịnh Độ, Dung Nghi Tình Thầy.
Trăm Năm Dấu Ngọc Phơi Bầy,
Thi Âm, Dịch Chú, Kinh Này Truyền Lưu.

Đèn Thiền Truyền Kệ Chân Tu,
Dòng Chân- Tiếp Thiện, Dáng Từ Pháp Âm.
Hoá Ra Hạt Nắng Nhã Thầm,
Hoá Vô Biên Cõi, Phương Ngàn Bối Am.

Bây Chừ Tịnh Độ Hương Ban,
Di Đà Thánh Chúng, Rải Ngàn Hương Thơm.
Chốn Từ Hiếu, Dưỡng Am Thân,
Từ Sơ Tâm Học, Chứng Phần Vô Sanh.

Quê Hương Nước Việt Ghi Danh,
Phương Tây Truyền Pháp, Âm Thanh Ngàn Đời.
Sư Ông Nhất Hạnh Thảnh Thơi,
Xã Buông Thân Huyễn, Nụ Cười Thiền Sư.
      Duyên Xưa Trùng Phùng:
     Chúng con, Hàng hậu học kính dâng lên Sư Bá Trừng Quang- Phùng Xuân- Hiệu Nhất Hạnh Trưởng Lão Thiền Sư Tăng.
     Đêm Khuya chuông ngân vọng, từ Chốn Tổ Đình, Chư huynh đệ Tông Môn Chốn Từ Hiếu Tổ Đình, kính báo là Sư Ông Nhẹ Góc Trong Chánh Niệm, Ký Tất Tịnh Độ, Quy Tịch Trăm Năm, Chúng con hạnh phúc khi được làm người hậu học trong con cháu chốn Tổ Đình Từ Hiếu, học pháp một thời, lắng nghe Duy Thức Học, Mà Sư Bá truyền dạy từ xứ Mỹ, Xứ Pháp lang truyền về Chốn Tổ.
      Chúng con, học được Pháp Hoa, từ sâu trong Chánh niệm, thực hành nghi thức Thiền Môn, nuôi dưỡng tâm tánh thiện chủng xuất gia, học và thực hành pháp môn bé thơ xuất hiện giữa dòng thế gian.

       一心頂禮嗣臨濟正宗第四十二代,了觀法脈第八世,慈孝寺住持,芳雲庵,法雲寺開山,國際梅村道場,清山道場,鹿菀道場禪主,避釋上澄下光字逢春號一行禪師阮公大和尚覺靈新圓寂.

Nhất tâm đảnh lễ Tân Viên Tịch, Tự Lâm Tế Tông Tứ Thập Nhị Thế, Liễu Quán Pháp Phái Đệ Bát Thế, Từ Hiếu Tổ Đình Niên Trưởng Trú Trì, Mai Thôn Đạo Tràng Quốc Tế Khai Sơn, Huý Thượng Trừng Hạ Quang, Tự Phùng Xuân, Hiệu Nhất Hạnh Thiền Sư, Nguyễn Công Hoà Thượng Giác Linh.

                 Tk: Thích Minh Thế
                 Bút danh: Hỷ Tâm Hải Triều.
                 Bút hiệu: Tịnh Nhật Vân Quang
                 Ngày 22-01-2022
                 Ngày Âm Lịch: 20-12-Tân Sửu.
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
30/06/2012(Xem: 12491)
Thành Kính Tưởng Niệm Hòa Thượng Thích Giác Lâm (1928 - 2012)
24/06/2012(Xem: 25045)
Kính lạy tôn dung Ngài Con xin tìm lại dấu xưa 39 năm, hai thế kỷ sao vừa Nín thở, lặng yên, đọc từng con chữ
12/06/2012(Xem: 8516)
Hòa thượng họ Đỗ, huý Châu Lân, sinh năm 1927 (Đinh Mão) tại thôn Quan Quang, xã Nhơn Khánh, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. Thân phụ là cụ ông Đỗ Hoạch, và thân mẫu là cụ bà Trần Thị Tú. Gia đình gồm năm người con, hai trai và ba gái; Hòa thượng Thích Đỗng Quán thứ ba, và Ngài là thứ tư. Gia đình Ngài đời đời thuần tín Tam bảo. Cha mất sớm, được mẹ chăm lo dạy dỗ. Với bẩm tánh thông minh và hiếu học, năm 11 tuổi Ngài thi đậu bằng Yếu lược. Việc này chưa xảy ra ở vùng quê của Ngài nên đích thân ông Lý trưởng đến thăm và chúc mừng. Đó là một vinh dự cho gia đình và quê hương Ngài lúc bấy giờ.
11/06/2012(Xem: 9785)
Sự nghiệp thiền sư Tăng Hội rất lớn lao. Nhờ vào những trước tác của Thầy mà ta biết được hành tướng của sự thực tập thiền tại trung tâm Luy Lâu Việt Nam và tại trung tâm Kiến Nghiệp Trung Quốc ngày xưa. Tư tưởng thiền của thầy Tăng Hội là tư tưởng thiền Đại Thừa, đi tiên phong cho cả tư tưởng Hoa Nghiêm và Duy Thức Bao giờ các chùa Việt Nam sẽ thờ tổ Khương Tăng Hội Hiện nay chúng ta đang ở thế kỷ XXI với nền văn minh rực rỡ, với nhiều thiết bị hiện đại, với mức sống rất cao, với vốn hiểu biết rất thien su khuong tang hoi.jpg
10/06/2012(Xem: 18231)
Cố Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Trí Chơn, thế danh Trương Xuân Bình, sinh ngày 20 tháng 11 năm 1933 (Quý Dậu) tại Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận, Việt Nam, là con thứ sáu trong một gia đình mười hai anh chị em. Thân sinh của Cố Trưởng Lão Hoà Thượng là cụ Trương Xuân Quảng, mất năm 1945, nguyên quán làng Kim Thành, quận Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, làm quan dưới thời Pháp thuộc, được bổ nhậm chức Kiểm Học (tương đương với Trưởng Ty Nha Học Chánh dưới thời các chính phủ quốc gia sau này) tỉnh Bình Thuận năm 1933 – 1939, và Đốc Học tỉnh Quảng Ngãi năm 1940 – 1945. Nhờ túc duyên với Phật Pháp, nên đến năm 1950, Cố Trưởng Lão Hoà Thượng đến Chù
06/06/2012(Xem: 17965)
Hòa thượng Thích Quảng Đức, Pháp danh Thị Thủy, Pháp tự Hành Pháp và thế danh là Lâm văn Tức, sinh năm 1897 tại làng Hội Khánh, quận Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa...
30/05/2012(Xem: 10983)
Tín Nghĩa tôi đến định cư Hoa Kỳ vào ngày 19 tháng 09 năm 1979, do nhị vị Hòa thượng Thích Thiên Ân và Hòa thượng Thích Mãn Giác bảo lãnh từ trại tỵ nạn Hongkong. Ngồi tính sổ thời gian thì cũng đã gỡ gần ba chục cuốn lịch. Giá như thời gian này mà ở trong tù thì cũng mục xương và chẳng bao giờ được thấy ánh sáng của thiên nhiên.
27/05/2012(Xem: 25063)
Tác phẩm Trí Quang Tự Truyện bản pdf và bài viết "Đọc “Trí Quang Tự Truyện” của Thầy Thích Trí Quang" của Trần Bình Nam
15/05/2012(Xem: 9032)
Trong đạo lập thân của người xưa – lập công, lập đức, lập ngôn– thì lập ngôn thường được cho là quan trọng nhất, vì đó là phần “hình nhi thượng”, là tinh hoa tư tưởng cá biệt của một dòng đời mang tính truyền thừa lâu dài và sâu xa cho hậu thế. Người đem hết năng lực tinh thần và tri thức của đời mình để lập ngôn thì thành nhà tư tưởng, triết gia. Người đem chất liệu đời mình để viết lại thì thành tác giả tự truyện, hồi ký.
09/05/2012(Xem: 12350)
Sự xuất hiện của Tổ sư Liễu Quán (1667-1742) như là một Bồ tát bổ xứ, thực hiện sứ mệnh lịch sử: Không chỉ duy trì và phát triển mạch sống Phật giáo Việt Nam giữa bối cảnh xã hội tối tăm, Phật pháp suy đồi mà còn thể hiện sự xả thân vì đạo; lập thảo am, ăn rong, uống nước suối, hơn mười năm tham cứu công án, tu hành đắc đạo.