Ban Tang Lễ Giác Linh Thượng Tọa Thích Tuệ Giác

12/04/202113:15(Xem: 4796)
Ban Tang Lễ Giác Linh Thượng Tọa Thích Tuệ Giác

TT ThichTue Giac
BAN TỔ CHỨC
TANG LỄ GIÁC LINH
THƯỢNG TỌA THÍCH TUỆ GIÁC

 

1. BAN CHỨNG MINH

 

  1. Hòa Thượng THƯỜNG CHIẾU (THÍCH NHẬT QUANG)
  2. Hòa Thượng THÍCH THẮNG HOAN
  3. Hòa Thượng THÍCH CHƠN ĐIỀN
  4. Hòa Thượng THÍCH CHƠN THÀNH
  5. Hòa Thượng THÍCH ĐẠO QUANG
  6. Hòa Thượng THÍCH MINH ĐẠT
  7. Hòa Thượng THÍCH PHƯỚC THUẬN
  8. Hòa Thượng THÍCH PHÁP NHẪN
  9. Hòa Thượng THÍCH TỊNH TỪ
  10. Hòa Thượng THÍCH HẠNH ĐẠT
  11. Sakya           TRÍ TUỆ
  12. Hòa Thượng THÍCH TỊNH ĐỨC
  13. Hòa Thượng THÍCH PHƯỚC TỊNH
  14. Hòa Thượng THÍCH NGUYÊN TRÍ
  15. Hòa Thượng THÍCH MINH TUYÊN
  16. Hòa Thượng THÍCH ĐẮC HUYỀN
  17. Hòa Thượng THÍCH NGUYÊN SIÊU
  18. Hòa Thượng THÍCH CHƠN TRÍ
  19. Hòa Thượng THÍCH MINH HỒI
  20. Hòa Thượng THÍCH MINH MẪN
  21. Hòa Thượng THÍCH NGUYÊN HẠNH
  22. Hòa Thượng THÍCH THÔNG PHƯƠNG
  23. Hòa Thượng THÍCH THIỆN LONG
  24. Hòa Thượng THÍCH NHẬT MINH
  25. Hòa Thượng THÍCH NHƯ MINH
  26. Hòa Thượng THÍCH MINH DUNG
  27. Hòa Thượng THÍCH NHẬT HUỆ

 

2. CỐ VẤN BAN TỔ CHỨC TANG LỄ

 

  1. Thượng tọa Thích Thông Tạng
  2. Hòa thượng Thích Thông Hải
  3. Thượng tọa Thích Thông Luận
  4. Thượng tọa Thích Thông Triết

 

3. BAN TỔ CHỨC TANG LỄ

 

  1. Thượng tọa Thích Tuệ Tỉnh
  2. Thượng tọa Thích Tuệ Hạnh (Điều hành – đối ngoại)
  3. Thượng tọa Thích Thông Giải (Thư ký)
  4. Thượng tọa Thích Tâm Chánh (Tiếp lễ)
  5. Đại đức Thích Đăng Trí (Điều hành – đối nội)

 

 

 

 

4. BAN NGHI LỄ

 

  1. Thượng tọa Thích Tuệ Minh
  2. Thương tọa Thích Tâm Chánh
  3. Đại Đức Thích Đạo Tuân
  4. Đại Đức Thích Đạt Ma Phổ Đức

 

5. BAN TIẾP TÂN & TIẾP LỄ

 

  1. Hòa thượng Thích Thông Hải
  2. Hòa thượng Thích Thiện Long
  3. Thượng tọa Thích Tuệ Hạnh
  4. Thượng tọa Thích Thông Triết
  5. Thượng tọa Thích Thông Hiền
  6. Thượng tọa Thích Tuệ Chơn
  7. Thượng tọa Thích Tỉnh Khang
  8. Ni Sư Thích Nữ Thuần Tuệ
  9. Ni Sư Thích Nữ Thuần Thành
  10. Ni Sư Thích Nữ Thuần Quán
  11. Sư Cô Thích Nữ Hương Giác
  12. Sư Cô Thích Nữ Hương Ngộ

 

6. BAN THỊ GIẢ

 

  1. Đại đức Thích Đạo Cơ
  2. Đại đức Thích Đạo Thuận
  3. Đại đức Thích Đạo Tuấn
  4. Đại Đức Thích Đạt Ma Phổ Đức
  5. Ni chúng Thiền viện Đại Đăng, Diệu Nhân, và Vô Ưu

 

7. BAN XƯỚNG NGÔN

 

Thượng tọa Thích Đạo Quảng

 

8. BAN THƯ KÝ

 

  1. Thượng tọa Thích Thông Giải
  2. Thượng tọa Thích Tỉnh Nghiêm
  3. Đại đức Thích Đăng Đại Dzũng
  4. Sư Cô Thích Nữ Trí Phúc Đức
  5. Sư Cô Thích Nữ Phương Minh

 

9. BAN HẦU KIM QUAN

 

Tăng Ni Đệ tử xuất gia

 

10. BAN TRANG TRÍ TRẦN THIÉT

 

  1. Thượng tọa Thích Tuệ Phát
  2. Đại đức Thích Đăng Đại Dzũng
  3. Nhóm Phật tử Đại Đăng

 

11. BAN HƯƠNG ĐĂNG

 

  1. Đại đức Thích Đăng Huy
  2. Đại đức Thích Đăng Toàn

 

 

 

12. BAN TRUYỀN THÔNG BÁO CHÍ

 

Nhóm Phật tử Quảng Hải

 

13. BAN ÂM THANH, ÁNH SÁNG, PHIM ẢNH

 

  1. Đại đức Thích Đăng Chơn
  2. Nhóm Phật tử Tâm Ấn
  3. Nhóm Phật tử Đại Đăng

 

14. BAN TRAI SOẠN

 

  1. Đại đức Thích Đạt Ma Chí Nghĩa
  2. Đại đức Thích Tánh Chánh
  3. Đại đức Thích Phước Hiền
  4. Sư cô Thích Nữ Hiền Phúc
  5. Ni chúng Đại Đăng, Diệu Nhân và Vô Ưu
  6. Phật tử Đại Đăng

 

15. BAN VẬN CHUYỂN& CƯ TRÚ

 

  1. Thượng tọa Thích Tuệ Minh
  2. Đại đức Thích Đăng Trí

 

16. BAN Y TẾ

 

Bác sỹ Trí Lạc

Y tá Bích Nguyễn

 

17. BAN VỆ SINH

 

  1. Đại đức Thích Đăng Đại Lượng
  2. Phật tử Chánh Tâm Tuệ
  3. Quý Phật tử TV Đại Đăng

 

18. BAN TRẬT TỰ

 

Ban Xây Dựng & Nhóm Donovan

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
02/12/2010(Xem: 10900)
Hòa thượng Thích Quảng Thiệp (1928-1998)
25/11/2010(Xem: 37908)
Trần Thái Tông là vị vua đầu của triều Trần. Ngài là đệ tử của thiền sư Viên Chứng trên núi Yên Tử. Ngài vừa làm vua vừa thực tập thiền. Ngài cũng từng thực tập thiền công án. Đây là 43 công án Vua đưa ra để cùng thực tập với tăng thân của Vua, gồm có giới xuất gia và tại gia. Thầy Làng Mai đã dịch những công án này ra tiếng Việt và tiếng Pháp năm 1968. Bản dịch tiếng Pháp xin xem ở phần phụ lục cuốn Clé Pour Le Zen, tác giả Nhất Hạnh, do nhà xuất bản JC Lattes ấn hành. Bản Hán Việt có trong Thơ Văn Lý Trần quyển II (Quyển thượng, trang 108-121), NXB Khoa Học Xã Hội.
24/11/2010(Xem: 15513)
Tiểu sử nhà văn Quách Tấn
15/11/2010(Xem: 10713)
Vào ngày 1-11-1963 khi quân đội đứng lên làm cuộc đảo chánh lật đổ chế độ của gia đình Ô. Ngô Đình Diệm - mà Hội Đồng Quân Dân Cách Mạng do Đại Tướng Dương Văn Minh cầm đầu gọi đó là cuộc “Cách Mạng” thì tôi là cậu sinh viên Luật Khoa Năm Thứ Nhất, chuẩn bị thi lên Năm Thứ Hai của Đại Học Luật Khoa Sài Gòn. Bố tôi sính đọc sách báo, vả lại gia đình cư ngụ ở xóm lao động cho nên Radio hàng xóm mở ầm ầm cả ngày khiến dù không muốn nghe nhưng cũng phải nghe tin tức từng giờ của đài phát thanh. Hơn thế nữa khi Sài Gòn nổ ra cuộc đấu tranh của Phật Giáo thì hầu như các đại học, trung học đều đóng của hoặc tự động bãi khóa.
10/11/2010(Xem: 11404)
Hoà Thượng thế danh Diệp Quang Tiền, pháp danh Tâm Khai, tự Thiện Giác, hiệu Trí Ấn Nhật Liên. Ngài sanh ngày 13 tháng 10 năm Quý Hợi (1923) tại thôn Xuân Yên, xã Triệu Thượng, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, trong một gia đình thâm tín Phật Giáo. Thân phụ là cụ Diệp Chí Hoan; thân mẫu là cụ bà Phan Thị Đường. Hai cụ sinh hạ được 5 người con : 4 nam, 1 nữ - Ngài là con thứ trong gia đình, sau anh trưởng là Thầy Diệp Tôn (Thích Thiện Liên). Năm lên 6 tuổi (1928) gia đình Ngài dời về thôn Diên Sanh, xã Hải Thọ, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Thân sinh Ngài đã rước thầy Đồ Nho danh tiếng về nhà để dạy chữ Hán cho hai con. Hai anh em Ngài thường được cụ Đồ khen là thông minh, hứa hẹn một tương lai tốt đẹp. Năm lên 10 tuổi (1932), Ngài theo học Việt Văn tại thôn Diên Sanh.
02/11/2010(Xem: 10826)
Thành kính khẩn bạch đến chư Tôn Đức Tăng Già của quý Giáo Hội, quý Tự Viện, quý tổ chức Phật Giáo cùng toàn thể chư vị thiện nam tín nữ Phật tử: Đại Lão Hòa Thượng thượng Huyền, hạ Ấn, thế danh Hoàng Không Uẩn, sinh năm 1928 tại Quảng Bình, Việt Nam
01/11/2010(Xem: 17337)
Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 1, Chùa Pháp Hoa (2000) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 2, Chùa Pháp Bảo (2001) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 3, Chùa Linh Sơn (2002) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 4, Tu Viện Vạn Hạnh (2003) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 5, Tu Viện Quảng Đức (2004) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 6, Chùa Phổ Quang (2005) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 7, Chùa Pháp Bảo (2006) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 8, Chùa Pháp Hoa (2007) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 9, Chùa Linh Sơn (2008) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 10, Chùa Pháp Bảo (2009) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 11, Thiền Viện Minh Quang (2010) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 12, Tu Viện Quảng Đức (2011) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 13, Tu Viện Vạn Hạnh (2012) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 14, Thiền Viện Minh Quang (2013) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 15, Tu Viện Quảng Đức (2014) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 16, Chùa Pháp Pháp Bảo (2015) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 17, Tu Viện Quảng Đức (2016) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 18, Chùa Pháp Hoa (2017) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 19, Chùa Pháp Hoa (2018)
01/11/2010(Xem: 49155)
Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 1, Chùa Pháp Hoa (2000) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 2, Chùa Pháp Bảo (2001) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 3, Chùa Linh Sơn (2002) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 4, Tu Viện Vạn Hạnh (2003) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 5, Tu Viện Quảng Đức (2004) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 6, Chùa Phổ Quang (2005) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 7, Chùa Pháp Bảo (2006) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 8, Chùa Pháp Hoa (2007) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 9, Chùa Linh Sơn (2008) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 10, Chùa Pháp Bảo (2009) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 11, Thiền Viện Minh Quang (2010) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 12, Tu Viện Quảng Đức (2011) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 13, Tu Viện Vạn Hạnh (2012) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 14, Thiền Viện Minh Quang (2013) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 15, Tu Viện Quảng Đức (2014) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 16, Chùa Pháp Pháp Bảo (2015) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 17, Tu Viện Quảng Đức (2016) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 18, Chùa Pháp Hoa (2017) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 19, Chùa Pháp Hoa (2018)
29/10/2010(Xem: 10155)
Kể từ khi vết tích của chùa Thiên Mụ được ghi lại đơn sơ trong sách Ô Châu Cận Lục vào năm 1553 (1), chùa đã tồn tại gần 450 năm cho đến ngày nay. Trải qua bao nhiêu cuộc bể dâu, chùa vẫn giữ được địa vị và vẫn đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống đạo và đời của dân Huế, nói riêng, và của dân cả nước, nói chung. Qua đầu thế kỷ 17, chùa đã thực sự đi vào lịch sử sau khi Nguyễn Hoàng vào xứ đàng trong để gây dựng cơ nghiệp đế vương với huyền thoại “bà tiên mặc áo đỏ” (9).