Tổ Đức Niệm Ân

20/12/202010:18(Xem: 6270)
Tổ Đức Niệm Ân

To Minh Hai
TỔ ĐỨC NIỆM ÂN

Bài tưởng niệm lê húy kỵ Tổ sư Minh Hải - Pháp Bảo (7/11 al)


Kính lạy giác linh Tổ sư:

Chúng con đã từng nghe:

Đồng An xưa, thác  sanh thai thánh

Dòng Lương Thị, quang huy ấu đồng.

Tuyền Châu hun đúc ngọn từ phong.

Phước Kiến ân triêm nguồn pháp vũ.

Rồi từ đó:

THẾ giới bao la, sáng  ngời  tinh tú

ÂN sư cao cả, bừng trổi đàm hoa.

Tướng hảo dung hòa

Từ trí viên mãn.

Nghiệp bút nghiên sáng lạng

Nếp nho gia miên trường.

Ôi thôi,

Cảnh quốc gia chinh chiến thê lương.

Cõi Diêm phù thăng trầm ảo não.

Do đó

Muốn học đạo thanh cao

Muốn quy hồi giác ngạn.

Nối mạch Phật pháp nghiêm trang

Kế thừa Thiệu long Thánh chủng

Lâm Tế đồng phụng

Báo Tư tục truyền..

Ba y một bát tùy duyên

Ngũ diệp nhất hoa mật chứng.

Minh Hải vô tận, cảnh giới hằng sa vui mừng.

Pháp Bảo thiền môn, long tượng uy nghi tráng lệ

Cơ duyên hóa độ:

Từ giã nhà quê

Lễ tạ sư tổ

Đáp ân thỉnh cầu, Đại Việt Quốc Chủ

Vượt biển hoằng hóa, khai trí An Nam.

Chấn tích hải khẩu Thuận An

Kiến tạo đàn tràng Linh Mụ.

Đương vi Xà – Lê truyền thụ

Chấp chỉnh Y - Chỉ giới sư.

Ban bố tâm từ

Rũ lòng thương cảm

Vì vậy

Kiến tạo Chúc Thánh già lam

Chấn tích Hội An cổ thị.

Phát khởi thanh quy

Hóa độ phàm chúng.

Tăng tướng ung dung

Thể tánh tự tại.

Tiếng hét Lâm Tế, vang vọng bên tai

Đả trượng Mã Tổ, diệu ngộ căn  trí.

Thế độ đệ tử oai nghi

Chơn truyền tử tôn thiệu thống.

Như:

Chánh Hiển, Chánh Hiền, Chánh Trí, Chánh Thông

Thiệt Úy, Thiệt Uyên, Thiệt Lương, Thiệt Mẫn.

Quả là

Thiệu Thống Trường Long

Miên Diên Vĩnh Cửu.

Rạng danh sự nghiệp đức Tổ

Sáng ngời công nghĩa Ân sư.

Xin ngài thùy từ

Kim liên tọa hạ

Chứng minh tâm thành chúng con

Đôi dòng thơ ca cung tán.

Nay con ngưỡng nguyện lễ bạt

Năm vóc sát đất kính dâng.

Ngũ phần tâm hương

Hòa nam, khể thủ.

 

Kim Vị - Lâm Tế chánh tông tam thập tứ thế, nguyên Sắc tứ Báo Tư – Thiên Đồng sơn môn, Đồng An nguyên sanh, Lê Triều Quốc vương ngự tứ ân ban, khai sơn Sắc Tứ Chúc Thánh tổ đình, húy thượng Minh hạ Hải, hiệu  Đắc Trí, thụy Pháp Bảo, Thỉ tổ Lão Hòa thượng giác linh thùy từ chứng giám.

Phụng vì, sắc tứ Chúc Thánh Tổ đình, lịch đại Tổ Sư Bồ Tát, tác đại chứng minh.

 

Đà Thành, Trọng Đông

Nhĩ tôn

Đinh Tâm An ( Đinh Công Thanh Minh)

Cung kính bái đề.

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
16/06/2011(Xem: 7917)
Tôi có duyên lành gặp được ngài một lần khi ngài đến thăm Hòa thượng chùa Đông Hưng, bổn sư của tôi, cũng là y chỉ sư của Hòa thượng Quảng Thạc, một để tử xuất gia của ngài khi còn ở đất Bắc. Cung cách khiêm cung, ngài cùng Hòa thượng tôi đàm đạo về quá trình tu tập cũng như Phật học, hai ngài đã rất tâm đắc về chí nguyện giải thoát và cùng nhau kết luận một câu nói để đời : “Mục đích tu hành không phải để làm chính trị”. Cũng câu nói này, khi chia tay chư tăng miền Nam, ngài đã phát biểu với hàng pháp lữ Tăng ni đưa tiễn. Khi sưu tập tư liệu về cuộc đời của ngài, tôi may mắn gặp được các bậc tri thức cao đồ của ngài kể lại. Nay, nhân có cuộc hội thảo về phong trào chấn hưng Phật giáo miền Bắc và công hạnh của ngài, tôi xin được góp thêm đôi điều.
14/06/2011(Xem: 9213)
Thiền sư PHÁP THUẬN (Bính Tý 918): Thiền sư đời Tiền Lê, thuộc dòng thiền Tỳ-Ni-Đa-Lưu Chi, không rõ gốc gác quê quán và tên thật, chỉ biết rằng Sư họ Đỗ, xuất gia từ thuở nhỏ ở chùa Cổ Sơn (Thanh Hóa), sau theo học đạo Thiền sư Phù Trì ở chùa Long Thọ, nổi tiếng là uyên thâm đức độ. Tương truyền rằng chính Sư đã dùng nghệ thuật phù sấm, làm cố vấn giúp vua Lê Đại Hành nắm quyền bính, dẹp yên được hỗn loạn trong triều cuối đời nhà Đinh, được vua Lê vô cùng trọng vọng. Năm 990 niên hiệu Hưng Thống thứ 2, Sư không bệnh mà viên tịch, thọ 76 tuổi, để lại cho đời các tác phẩm: “Bồ Tát sám hối văn”, “Thơ tiếp Lý Giác”, và một bài kệ.
14/06/2011(Xem: 9241)
• Thiền sư Chân Không(Bính Tuất -1046): Sư họVương, thế danh Hải Thiềm, quê quán ở làng Phù Đổng (nay là Tiên Sơn-Bắc Ninh), xuất thân trong một gia đình quý tộc. Lúc thân mẫu của ông mang thai, cha ông nằm mộng thấy một vị tăng Ấn Độ trao cho cây tích trượng, sau đó thì ông ra đời. Mồ côi cha mẹ từ thuở niên thiếu, ông siêng chăm đọc sách không màng đến những chuyện vui chơi. Năm 20 tuổi ông xuất gia, rồi đi ngao du khắp nơi để tìm nơi tu học Phật Pháp. Nhân duyên đưa đẩy cho Sư đến chùa Tĩnh Lự ở núi Đông Cứu (Gia Lương-Hà Bắc), nghe Thiền sư Thảo Nhất giảng kinh Pháp Hoa mà ngộ đạo, được nhận làm đệ tử, sớm tối tham cứu thiền học, và được sư thầy truyền tâm ấn, thuộc dòng thiền Tì-ni-đa Lưu -chi, thế hệ thứ 16. Sau, Sư lên núi Phả Lại, trại Phù Lan (nay thuộc huyện Mỹ Văn-Hưng Yên) làm trụ trì chùa Chúc Thánh, ở suốt 20 năm không xuống núi để chuyên trì giới luật, tiếng thơm đồn xa đến cả tai vua.
13/06/2011(Xem: 18580)
Ôi, trong giáo pháp Phật đà của ta, việc trọng đại nhất là gì ? Con người sinh ra không từ cửa tử mà đến, chết không vào cửa tử mà đi. Thế nên người nằm non ở tổ, bỏ ngủ quên ăn, chẳng tiếc thân mạng, đều vì việc lớn sinh tử. Ở thời giáo suy pháp mạt này mà có người vì việc lớn sinh tử như Hòa thượng Liễu Quán, thật là hy hữu.
05/06/2011(Xem: 18574)
Ngôi chùa nhỏ nằm khiêm tốn trong khoảng đất rộng đầy cây trái. Buổi tối, mùi nhang tỏa ra từ chánh điện hòa với mùi thơm trái chín đâu đó trong vườn.
01/06/2011(Xem: 9524)
Cuộc đời và sự nghiệp của Khương Tăng Hội, ta hiểu biết qua hai bản tiểu sử xưa nhất, một của Tăng Hựu (446 - 511) trong Xuất tam tạng ký tập 13 ĐTK 2145 tờ 96a29-97a 17 và một của Huệ Hạo trong Cao Tăng truyện 1 ĐTK 2059 tờ 325a13-326b13. Bản của Huệ Hạo thực ra là một sao bản của bản Tăng Hựu với hai thêm thắt. Đó là việc nhét tiểu sử của Chi Khiêm ở đoạn đầu và việc ghi ảnh hưởng của Khương Tăng Hội đối với Tô Tuấn và Tôn Xước ở đoạn sau, cùng lời bình về sai sót của một số tư liệu. Việc nhét thêm tiểu sử của Chi Khiêm xuất phát từ yêu cầu phải ghi lại cuộc đời đóng góp to lớn của Khiên đối với lịch sử truyền bá Phật giáo của Trung Quốc, nhưng vì Khiêm là một cư sĩ và Cao Tăng truyện vốn chỉ ghi chép về các Cao Tăng, nên không thể dành riêng ra một mục, như Tăng Hựu đã làm trong Xuất tam tạng ký tập 13 ĐTK 2145 tờ 97b13-c18, cho Khiêm.
31/05/2011(Xem: 27611)
Quy ẩn, thế thôi ! (Viết để thương một vị Thầy, mỗi lần gặp nhau thường nói “mình có bạn rồi” dù chỉtrong một thời gian rất ngắn. Khi Thầy và tôi cách biệt, thỉnh thoảng còn gọi điệnthoại thăm nhau) Hôm nay Thầy đã đi rồi Sắc không hai nẻo xa xôi muôn ngàn Ai đem lay ánh trăng vàng Để cho bóng nguyệt nhẹ nhàng lung linh Vô thường khép mở tử sinh Rong chơi phù thế bóng hình bụi bay Bảo rằng, bản thể xưa nay Chơn như hằng viễn tỏ bày mà chi
27/05/2011(Xem: 12967)
Vào năm 247, một vài năm sau khi Chi Khiêm rời khỏi kinh đô Kiến Nghiệp, Khương Tăng Hội, một vị cao tăng gốc miền Trung Á, đã đến đây. Ngài đến từ Giao Chỉ, thủ phủ của Giao Châu ở miền cực Nam của đế quốc Trung Hoa (gần Hà nội ngày nay). Gia đình của Ngài đã sinh sống ở Ấn độ trải qua nhiều thế hệ; thân phụ của Ngài, một thương gia, đến định cư ở thành phố thương mại quan trọng này.
25/05/2011(Xem: 7265)
Đại lão Hòa Thượng Thích Đồng Huy HT. Thích Đồng Huy - Thành viên HĐCM, Ủy viên HĐTSTW GHPGVN, Trưởng ban Trị sự Phật giáo tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Trưởng ban Quản trị Đại Tòng Lâm, Viện chủ Tu viện Vạn Hạnh.
05/05/2011(Xem: 7549)
Từ hôm hay tin Thầy lâm bịnh và tiếng nói yếu ớt của Thầy qua điện thoại làm con rất lo. Nhiều năm qua con cố gắng về thăm Thầy một lần nhưng ước vọng đơn sơ ấy đã không toại nguyện. Hơn hai mươi năm con xa Thầy, xa Tu viện, xa đồi núi thương yêu thưở nào. Mai này nếu được về thăm thì thầy đã ra đi biền biệt.