Điếu Văn Tưởng Niệm Ân Sư

06/10/202014:18(Xem: 5780)
Điếu Văn Tưởng Niệm Ân Sư
ht thich giai thien 2
 Hoà Thượng Thích Giải Thiện (1941-2020)
Điếu Văn Tưởng Niệm Ân Sư
Thành kính tưởng niệm Giác Linh Hoà Thượng Ân Sư Tân Viên Tịch thượng Giải hạ Thiện.
Kính nguyện Giác Linh Hoà Thượng Cao Đăng Phật Quốc.
Trời Sài Thành mưa rơi gió nhẹ
Vườn Đức Lâm cây rủ hoa buồn
Tại Linh Đường Tăng chúng tiếc thương
Nơi Trượng Thất Thiền sàng vắng lặng.
Thế là: Củi hết lửa tắt, nhật vãng nguyệt lai
Tử biệt sanh ly, Ta Bà cõi tạm, Tịnh Độ quê chơn
Sống gởi thác về, tịch nhi phi tịch.
Nhớ Giác Linh xưa:
Tại xã Lân Đức huyện Mộ Đức tuỳ duyên xuất thế.
Nơi nước Việt Nam tỉnh Quảng Ngãi hiện hạnh sanh thân.
Ấu thơ tánh nết ngoan hiền, khiêm cung, lễ độ.
Lớn lên tâm tư thuần hậu, hoà nhã, nhân từ.

Gia đình mộ Phật, khi Ngài lên tám tuổi chí xuất trần phát khởi, tâm mến đạo trào dâng, lòng trông mong được thân gần nơi cửa Phật, ý ao ước được quy hướng chốn già lam, để lắng nghe mõ sớm chuông chiều, kệ kinh trầm bỗng.

May mắn thay được song thân cho phép nên Ngài được xuất gia, nương Bổn Sư thượng Pháp hạ Hữu làm thầy, dựa Hoà Thượng thượng Trí hạ Hưng làm y chỉ. Từ đó, nơi già lam Từ Quang ngày ngày học kệ kinh, chuông khuya mõ sớm nuôi dưỡng thiền tâm. Chốn không môn Từ Lâm năm tháng thọ pháp nhũ, cơm trưa cháo tối vun bồi chí đạo, cần mẫn siêng năng công phu chấp tác, nhu hoà chăm chỉ, học hỏi trao dồi. Vì thế, nên được Thầy thương bạn mến, bổn đạo thân gần, hạnh đức thơm lan, đèn tâm tỏ rạng. Năm mười sáu tuổi, Được Hoà Thượng Thích Trí Hưng gởi vào Nam cho đăng đàn thọ Sa Di giới, nương Giác Lâm thiền môn làm nơi cư ngụ, dựa Tôn Sư Thiện Thuận làm thầy y chỉ. Đất khách quê người, xa Thầy cách bạn, sao khỏi buồn tủi ôm nỗi nhớ thương. Quê cha đất tổ, cách xóm xa làng, đành cam ngậm ngùi chịu niềm lưu luyến. Nhưng rồi, ngày tháng thoi đưa, với chí nguyện tinh cần siêng năng, chăm chỉ, từng bước Ngài đã vượt qua nỗi khó khăn, dần dần làm quen với cuộc sống mới. Ngài đã được chư tăng thương mến, Phật tử nể vì.

Năm 1971, duyên lành hội đủ, Hoà Thượng được tôn sư cho đăng đàn thọ cụ túc giới. Từ đây giới thể châu viên, tâm đăng tỏa sáng. Ngài tham dự vào Viện Cao Đẳng Phật Học Huệ Nghiêm, bao năm đèn sách, kinh luật luận nghiên tầm, hoa tuệ giác bừng nở, ngày tốt nghiệp ra trường tràn niềm hoan hỷ, thỏa chí ước mong. Từ đó, sở học sở hành song song thi hoá, vận khởi bi tâm truyền trao giáo dưỡng pháp lữ đồng hành, huynh đệ đồng môn, khi thì giảng dạy kinh văn ở Giác Lâm, Tân Bình, lúc thì truyền trao luật luận nơi Tuyền Lâm, Quận Sáu.

Năm 1988 tông môn giáo hội công cử Ngài về trú trì Đức Lâm cổ tự. Từ đó, Hoà Thượng khép mình không ra khỏi cửa thiền môn, gác chuyện lợi danh ngoài vòng nhân thế, mật hạnh tu hành, tiếp tăng độ chúng, trùng hưng Tam Bảo, khiến cho ngôi cổ tự nhỏ bé vắng vẻ thuở nào, thành ngôi phạm vũ trang nghiêm đông đảo môn đồ học chúng hiện tại. Đối với bản thân Hoà Thượng luôn tự mình thúc liễm thân tâm, tri hành hiệp nhứt, giờ khắc nghiêm túc, sống đời giản dị thanh tu, nâu sồng đạm bạc. Đối với môn nhân đồ chúng, Ngài từ bi rộng lượng cưu mang chở che ban phát, giúp đỡ, xẻ chia, không phân chủ khách, lấy trí tuệ làm sự nghiệp nên kinh luật luận thường thọ trì, dùng phương tiện độ nhân sinh mượn chuyện cát hung giải nghi khi nhân gian thưa hỏi, để rồi dắt dìu kẻ sơ cơ, đỡ nâng người lạc lối, khiến cho kẻ đến người đi, cả khách tăng lẫn người tục đều cảm phục mến thương tư phong thuần hậu nhu hoà, an yên vô sự của Ngài.
Những tưởng:
Đèn thiền mãi sáng, gương hạnh hằng soi!
Nào ngờ đâu:

Gió vô thường thổi đến, sóng sanh tử gợn xô, đèn lưu ly chợt tắt, hương mạt lị thơm lừng. Giờ Ngọ, ngày Rằm, tiết Trung Thu, năm Canh Tý, nơi trượng thất bóng lặng phòng không, vườn Đức Lâm cây buồn hoa rủ. Môn đồ học chúng ngậm ngùi thương tiếc rơi lệ, lãnh thọ di ngôn chu toàn hiếu sự. Pháp phái tông Môn xúc động bàng hoang tưởng niệm khấp bái tiễn biệt.

Thế là:
Từ nay, môn đồ pháp quyến mất đi người Thầy khả kính, Thiền gia mất đi một thạch trụ, Môn phong pháp phái mất đi một pháp lữ đồng hành. Nhưng hoa đàm tuy rụng vẫn còn hương. Hoà Thượng đi vào cõi vô tung bất diệt. Gương hạnh sáng ngời và đạo phong trác việt của Ngài mãi còn rạng soi cho hàng Tăng tục hậu học chúng con.

Từ nơi trời phương ngoại xa xôi, cách quê hương Việt Nam thân yêu hơn nửa vòng trái đất. Vì dịch bịnh lay lan, việc đi lại khó khăn, con không thể về nơi cổ tự Đức Lâm, để đảnh lễ hầu kim quan Ân Sư được. Con thành kính vọng về nơi Giác Linh Đường khấp lễ tưởng niệm, lòng thành cẩn bút ghi đôi dòng điếu văn và thơ tán dương hạnh đức của Người, hầu báo đền thâm ân trong muôn một.

“Giải Thiện Ân Sư đức hạnh toàn
Sống đời thanh đạm nhẹ nhàng an
Thiền môn phục dựng trang nghiêm điện
Đồ chúng cưu mang thanh tịnh tăng
Giản dị ung dung nuôi chí đạo
Hiền hoà tự tại dưỡng tâm trang
Lợi danh bỏ lại ngoài nhân thế
Trượng thất già lam vô sự nhàn.
Trượng thất già lam vô sự nhàn
Tiếp tăng độ chúng hạnh cưu mang
Không phân chủ khách đạo tình thắm
Chẳng bận lợi danh gương đức trong
Hỷ xả bao dung tâm rỗng lặng
Từ bi che chở hạnh viên tròn
Ta Bà mãn nguyện về Tây cảnh
Xả báo an tường thượng phẩm đăng”.
Kính nguyện Giác Linh Hoà Thượng Ân Sư Thượng Phẩm Thượng Sanh Cao Đăng Phật Quốc,nơi Tịnh Độ tuỳ duyên dạo bước vân du, chốn Ta Bà thuỳ nguyện tiêu dao hoá độ.
Nam Mô Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật
Phụng vì Đức Lâm Đường Thượng, Từ Lâm Tế Chúc Thánh Chánh Tông Tứ Thập Nhất Thế, Tân Viên Tịch Giác Linh Hoà Thượng thượng Giải hạ Thiện Thuỳ Từ Chứng Giám.
California, 05-10-2020
Pháp Tử-Thích Chúc Hiền ( Khấp bái, kính ghi)


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
02/03/2012(Xem: 7900)
Hòa thượng thế danh Trần Văn Chín, sinh năm Canh Ngọ (1930) tại làng Ái Nghĩa, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam. Thân phụ là cụ ông Trần Văn Hoàng pháp danh Chơn Tấn và thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Chung (khi Ngài viên tịch thì song thân vẫn còn tại thế). Sinh ra trong một gia đình có truyền thống Phật giáo nên Ngài sớm có ý chí thoát tục tu đạo. Lúc lên 12 tuổi, Ngài đến chùa Phổ Khánh trong làng và tỏ ra quyến luyến không muốn về. Nhưng vì là con trai duy nhất trong gia đình nên Ngài phải trở về nhà lo bổn phận môn đăng định tỉnh.
05/02/2012(Xem: 8114)
Sáng ngày 24 tháng Giêng năm Giáp Ngọ (23.02.2014), thượng tọa Thích Quảng Tâm, Ủy viên Ban Nghi lễ GHPGVN tỉnh Khánh Hòa, trụ trì chùa Thanh Hải, xã Cam Thịnh Đông, thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa cùng chư tôn đức môn đồ pháp quyến, thân tộc, đệ tử và phật tử đạo tràng chùa Linh Thứu, chùa Linh Quang (Nha Trang) đã thành kính tưởng niệm húy nhật lần thứ 26 cố Hòa thượng Bổn sự Thích Pháp Viện.
18/01/2012(Xem: 14215)
HT Thích Nguyên Siêu trụ trì Chùa Phật Đà, San Diego và Tu Viện Pháp Vương, Escondido, Hoa Kỳ
25/12/2011(Xem: 12902)
Thành kính tưởng niệm HT Thích Trí Hiền
13/12/2011(Xem: 9770)
Mùa hè năm ấy có lẽ là một mùa hè nóng bức oi ả nhất của thập niên tám mươitại miền Bắc. Trại giam Ba Sao, Nam Hà thuộc tỉnh Hà Nam Ninh như nằm yên dưới sức nóng như thiêu đốt, ngay cả về đêm cái nóng như vẫn còn âm ỉ, mọi thứ như tỏa ra hơi nóng – những bức tường, những sàn lót gạch hung hung đỏ, cái sân tráng xi măng
13/10/2011(Xem: 8209)
Thế giới, với người ngộ đạo, đã được lộn trái trở lại: sanh tử lộn ngược thành Niết Bàn. Đời sống có ý nghĩa là không tịch. Đời sống là sự biểu hiện của tính sáng.
10/10/2011(Xem: 7333)
Chúc Mừng Hòa Thượng Minh Dung
09/10/2011(Xem: 7489)
“ Lúc này ngài lại đi khắp các ngọn núi. Bảo Sát thưa rằng, ‘Tôn đức tuổi đã cao mà cứ xông pha sương tuyết thì mạng mạch Phật giáo sẽ thế nào ?’ Thượng hoàng đáp : ‘Thời ta đã đến, vì thế ta muốn làm kế lâu dài mà thôi’.
15/09/2011(Xem: 10242)
Hòa thượng Thích Trí Minh thế danh Đinh Văn Nhiên sinh năm Giáp Thìn (1904) tại xã Điện Tiến, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Thân phụ Ngài là cụ ông Đinh Văn Siêu, pháp danh Ấn Lộc; thân mẫu là cụ bà Hồ Thị Hành. Năm Nhâm Ngọ (1906), khi vừa tròn 3 tuổi thì mẫu thân qua đời, Ngài được người dì chăm lo nuôi dưỡng.
15/09/2011(Xem: 9201)
HT.Thích Trí Quang là một bậc danh tăng Việt Nam thời hiện đại. Ngài sinh năm Quý Hợi (1923), tại làng Diêm Điền, tỉnh Quảng Bình - ngôi làng có mối liên hệ chặt chẽ với Phong trào Văn Thân của chí sĩ Phan Đình Phùng - trong một gia đình gồm sáu anh em trai. Gia đình HT đều theo Phật lâu đời; thân phụ sau này xuất gia, làm đệ tử của ngài Đắc Quang - Tăng cang chùa Linh Mụ.