Hương Từ Đức Lâm.

05/10/202020:27(Xem: 4150)
Hương Từ Đức Lâm.
Hương Từ Đức Lâm.

An nhiên giữa cõi nhân gian,
Đến đi giấc mộng, chốn ngàn thiên thu.
Bái hầu tịnh cảnh Huân tu,
Thiền môn không giác, hương từ Đức Lâm.

Bậc Thầy Thiện Giải nhân Tâm,
Tiếp nuôi Tăng Chúng, giữ tầm pháp y.
Nam- Trung - Bắc độ phương kỳ,
Ngài gian tay đón, lối Đi Hoằng truyền.

Hương Đức nguyện giữ chân nguyên,
Tài Tăng cứu độ, vững thuyền chèo duyên.
Nuôi Tình Đức nguyện thiền viên,
Cưỡi thương hạt nắng, giữa niềm nhạn bay.

Trứ danh kinh luật tầm Thầy,
Nghe hương nuôi chúng, tháng ngày học Tăng.
Cao - Trung - Đại Học, vầng trăng,
Ngài Ôn hạnh tuệ, gởi tầm hương thơm.

Suốt đời thanh đạm giản đơn,
Tay lần hạt trí, sáng hơn sáu thời.
Trì niệm luật, hành tịnh phơi,
Năm Ngàn Ngài phát, duyên người xuất gia.

Đức Lâm chốn tổ ngân ba,
Thiền đường Tăng chúng, dung hoà nghiêm bi.
Ngài Giải Thiện nếm khắc ghi,
Nương triều Hải chúng, chẳng bì chi ai.

Tám mươi năm cuộc sắc phai
Năm mươi Hạ tịnh, danh tài Thiền Tăng.
Một đời niệm Phật y vàng,
Trang nghiêm công hạnh, ngộ trăng liên trì.

Đời phó thác xã ra đi,
Đạo tràng truyền giới, dung nghi ấn Huyền.
Bái Tăng chúng trút hơi nguyên,
Lên thuyền về tịnh, y thiền giã chân.

Đức Lâm nhớ dáng thừa ân,
Ngài Giải Thiện ngự, kết nhân Di Đà.
Hương sen pháp phục y toà,
Liên Thuỳ dung dáng, ngôi nhà Nhất Tâm.

Cung kính khể thủ lễ, Ngài Giải Thiện, viện chủ chùa Đức Lâm, nếu ai một lần nhân duyên diện kiến thức trúc về danh hương của Ngài, thì không một vị học Tăng thời bấy giờ không nhắc đến.
Hạnh nguyện của Ngài là gian tay đón tất cả các Tăng sinh trẻ vào Sài Gòn tu học, tham cầu học vấn từ các trường Cao- Trung- Đại Học, giữa đời Đạo song tu.
Tất cả học Tăng thời ấy, giờ các vị rãi khắp cả Bắc Trung Nam, ra tận các nước.
Có vị giữ gìn chiếc áo, có vị bỏ áo trước hiên chùa, trao y pháp lại cho thầy tổ, có vị thì thành danh tri nỉ, nhờ lời dạy của Ngài mà tự chọn, đến đi như ngàn mây trắng, không vướng nhạn Hồng duyên.
Chúng con Tk: Thích Minh Thế có nhân duyên diện kiến Ngài được hai lần.
Vào tháng ba năm 2007, và tháng năm năm 2009, tại Đức Lâm và Chùa Chơn Giác Nhà Bè- Tphcm.
Mỗi khi gặp Ngài, với nụ cười hiền hậu, dung nghi đỉnh đạt, Ngài gặp chúng con và dạy rằng:
       “Tu và Học như duyên thiền tập, giữ tâm mình mới thấy Tầm và Tứ tu thân.
         Tu và xã như chính nó là pháp, vận hành thiện trong Tam nghiệp, vận hành chuyển hoá, mới thấy được Bát Chánh Đạo đi về.
         Tu và Nguyện như chính nó là giới, chuyển thức và tánh mới nhiếp tâm, ai là vị tu sĩ, bỏ tham danh tài sắc vọng niệm vị ấy sẽ như nhạn ảnh Huyền không, chẳng bận lòng trông nhiễm cầu tài Lư trú, như giã cùng tử lang thang. Chính mình tu con nhé...”
Chúng con chấp tay lắng nghe, lời pháp.
Thế rồi, Ngài đọc cho chúng con nghe mấy vần thơ:
            “ Tu như áo cõi Hồng,
              Niệm như rót không không.
             An nhiên trong giới trụ.
             Chớ ái nhiễm phiêu bồng.”
Chúng con ghi nhớ, mỗi lần gặp Ngài, thì tâm mình luôn an...!
Chúng con ghi mãi, và nhớ những gì Ngài dạy, sẽ ghi trong những dấu chân tu bụi chúng con được học.
Hạnh nguyện chúng con học mãi, hễ ai đi tụng Kinh Ngài liền quân phân Năm ngàn cho học Tăng, hiểu được tâm trạng nên các học Tăng thời ấy luôn duy trì tinh tấn. Không biến trễ khỏi bỏ phí phụ công.
Giờ này, chúng con chấp Tay bái biệt Ngài, hồi quy cảnh tịnh liên Thuỳ thượng đăng.
                 Tk: Thích Minh Thế
                 Bút danh: Hỷ Tâm Hải Triều.
                 Bút hiệu: Tịnh Nhật Vân Quang
                 Ngày 03-10-2020.
                 Ngày Âm Lịch: 17-08-Canh Tý.
Viết tại Thiền Thất Phổ Tịnh thiền vi- Hà nội trong những gió thu về phất đầy hương sữa tình tôi..!

Hương Từ Đức Lâm-3
Long vị và Tôn dung Ngài Giải Thiện - Trú Trì Đức Lâm Tự- Tân Bình- Tphcm.
Hương Từ Đức Lâm-1
Pháp tướng di ảnh Tôn Dung Ngài Giải Thiện ( 1941-2020 ).
Hương Từ Đức Lâm-2
Ngôi Tam bảo Đức Lâm, một thời Ngài là vị trú trì..!
Hương Từ Đức Lâm-4
Dung Nghi Hình Ảnh Ngài..
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
24/11/2010(Xem: 15160)
Tiểu sử nhà văn Quách Tấn
15/11/2010(Xem: 10648)
Vào ngày 1-11-1963 khi quân đội đứng lên làm cuộc đảo chánh lật đổ chế độ của gia đình Ô. Ngô Đình Diệm - mà Hội Đồng Quân Dân Cách Mạng do Đại Tướng Dương Văn Minh cầm đầu gọi đó là cuộc “Cách Mạng” thì tôi là cậu sinh viên Luật Khoa Năm Thứ Nhất, chuẩn bị thi lên Năm Thứ Hai của Đại Học Luật Khoa Sài Gòn. Bố tôi sính đọc sách báo, vả lại gia đình cư ngụ ở xóm lao động cho nên Radio hàng xóm mở ầm ầm cả ngày khiến dù không muốn nghe nhưng cũng phải nghe tin tức từng giờ của đài phát thanh. Hơn thế nữa khi Sài Gòn nổ ra cuộc đấu tranh của Phật Giáo thì hầu như các đại học, trung học đều đóng của hoặc tự động bãi khóa.
10/11/2010(Xem: 11387)
Hoà Thượng thế danh Diệp Quang Tiền, pháp danh Tâm Khai, tự Thiện Giác, hiệu Trí Ấn Nhật Liên. Ngài sanh ngày 13 tháng 10 năm Quý Hợi (1923) tại thôn Xuân Yên, xã Triệu Thượng, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, trong một gia đình thâm tín Phật Giáo. Thân phụ là cụ Diệp Chí Hoan; thân mẫu là cụ bà Phan Thị Đường. Hai cụ sinh hạ được 5 người con : 4 nam, 1 nữ - Ngài là con thứ trong gia đình, sau anh trưởng là Thầy Diệp Tôn (Thích Thiện Liên). Năm lên 6 tuổi (1928) gia đình Ngài dời về thôn Diên Sanh, xã Hải Thọ, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Thân sinh Ngài đã rước thầy Đồ Nho danh tiếng về nhà để dạy chữ Hán cho hai con. Hai anh em Ngài thường được cụ Đồ khen là thông minh, hứa hẹn một tương lai tốt đẹp. Năm lên 10 tuổi (1932), Ngài theo học Việt Văn tại thôn Diên Sanh.
02/11/2010(Xem: 10752)
Thành kính khẩn bạch đến chư Tôn Đức Tăng Già của quý Giáo Hội, quý Tự Viện, quý tổ chức Phật Giáo cùng toàn thể chư vị thiện nam tín nữ Phật tử: Đại Lão Hòa Thượng thượng Huyền, hạ Ấn, thế danh Hoàng Không Uẩn, sinh năm 1928 tại Quảng Bình, Việt Nam
01/11/2010(Xem: 17056)
Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 1, Chùa Pháp Hoa (2000) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 2, Chùa Pháp Bảo (2001) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 3, Chùa Linh Sơn (2002) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 4, Tu Viện Vạn Hạnh (2003) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 5, Tu Viện Quảng Đức (2004) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 6, Chùa Phổ Quang (2005) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 7, Chùa Pháp Bảo (2006) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 8, Chùa Pháp Hoa (2007) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 9, Chùa Linh Sơn (2008) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 10, Chùa Pháp Bảo (2009) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 11, Thiền Viện Minh Quang (2010) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 12, Tu Viện Quảng Đức (2011) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 13, Tu Viện Vạn Hạnh (2012) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 14, Thiền Viện Minh Quang (2013) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 15, Tu Viện Quảng Đức (2014) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 16, Chùa Pháp Pháp Bảo (2015) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 17, Tu Viện Quảng Đức (2016) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 18, Chùa Pháp Hoa (2017) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 19, Chùa Pháp Hoa (2018)
01/11/2010(Xem: 48715)
Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 1, Chùa Pháp Hoa (2000) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 2, Chùa Pháp Bảo (2001) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 3, Chùa Linh Sơn (2002) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 4, Tu Viện Vạn Hạnh (2003) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 5, Tu Viện Quảng Đức (2004) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 6, Chùa Phổ Quang (2005) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 7, Chùa Pháp Bảo (2006) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 8, Chùa Pháp Hoa (2007) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 9, Chùa Linh Sơn (2008) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 10, Chùa Pháp Bảo (2009) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 11, Thiền Viện Minh Quang (2010) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 12, Tu Viện Quảng Đức (2011) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 13, Tu Viện Vạn Hạnh (2012) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 14, Thiền Viện Minh Quang (2013) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 15, Tu Viện Quảng Đức (2014) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 16, Chùa Pháp Pháp Bảo (2015) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 17, Tu Viện Quảng Đức (2016) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 18, Chùa Pháp Hoa (2017) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 19, Chùa Pháp Hoa (2018)
29/10/2010(Xem: 10126)
Kể từ khi vết tích của chùa Thiên Mụ được ghi lại đơn sơ trong sách Ô Châu Cận Lục vào năm 1553 (1), chùa đã tồn tại gần 450 năm cho đến ngày nay. Trải qua bao nhiêu cuộc bể dâu, chùa vẫn giữ được địa vị và vẫn đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống đạo và đời của dân Huế, nói riêng, và của dân cả nước, nói chung. Qua đầu thế kỷ 17, chùa đã thực sự đi vào lịch sử sau khi Nguyễn Hoàng vào xứ đàng trong để gây dựng cơ nghiệp đế vương với huyền thoại “bà tiên mặc áo đỏ” (9).
23/10/2010(Xem: 8826)
Trong Cây Có Hoa Trong Đá Có Lửa Kính Dâng Hòa Thượng Thích Như Điển nhân dịp mừng thọ 70 tuổi của Ngài và kỷ niệm 40 năm khai sơn Chùa Viên Giác tại Đức Quốc Tỳ Kheo Thích Nguyên Tạng “Trong Cây Có Hoa, Trong Đá Có Lửa” là lời pháp ngữ của Thiền Sư Đạo Nguyên do Hòa Thượng Thích Như Điển nhắc lại trong thời giảng Pháp của Ngài mà tôi đã nghe được khi theo hầu Ngài trong chuyến đi Hoằng Pháp tại Hoa Kỳ năm 2006. Thiền Sư Đạo Nguyên (Dogen) là người Nhật, Ngài sinh năm 1200 và tịch năm 1253, thọ 53 tuổi. Ngài là Sáng Tổ của của Soto-Zen (Thiền Tào Động) của Nhật Bản, và là tác giả bộ sách nổi tiếng “Chánh Pháp Nhãn Tạng” “Ki no naka ni, hana ga aru (Trong cây có hoa), Ishi no naka ni, hi ga aru (Trong đá có lửa)” Đó là pháp ngữ của Thiền Sư Đạo Nguyên (Dogen), được Hòa Thượng Như Điển dịch sang lời Việt. Lời thơ quá tuyệt vời, tuy ngắn gọn nhưng dung chứa cả một kho tàng giáo lý về Nhân Duyên Quả của Đạo Phật.
23/10/2010(Xem: 8758)
Trong mười thế kỷ phong kiến Việt Nam, Trần Nhân Tông là một trong những ông vua giỏi và tài hoa bậc nhất. Lịch sử đã xem ông là “vị vua hiền” đời Trần, có công lớn trong sự nghiệp trùng hưng đất nước. Văn học sẽ nhớ mãi ông bởi những vần thơ thanh nhã, sâu sắc và không kém hào hùng.