Dấu Chân Trần.

22/06/202020:02(Xem: 5887)
Dấu Chân Trần.
ht luu thanh 1

Dấu Chân Trần.


Dấu Chân Trần Như Áng Mây Bay
Âm ba sóng tịnh gió trăng đầy
Phiêu du hải ngạn nguồn thi phẩm
Đọng lại Tâm Cang Dáng dung Thầy.

Hình ảnh dung dị tư chất nhân từ của Trưởng Lão Hoà Thượng, dấu chân người từng Thăm viếng các vị Tôn túc, như Sài gòn , Đồng Nai, Lâm Đồng, Đà Nẳng, Quảng Bình, Tư Gia Nhà Ôn phụng Thờ Tiên Tổ, Ôn Có Một Người Bào Đệ đồng xuất gia, Ôn Đã từng vân du khắp xứ Bắc, và các tỉnh trong cả nước, khi thì thuyết pháp, khi thì đăng đàn khoa chẩn, khi thì Bạt vớt trầm luân cho Hương linh, khi thì Đạo từ, khi thì chứng minh trai lễ, Già Lam, Pháp Vân, Vạn Phước, Linh Quang, Linh Sơn Nha Trang.

Các Gia Đình Phật Tử Hà Cảng, Thừa Thiên Ai ai cũng cung kính.
Dấu Chân của Ôn Đến Cộng Hoà Liên Bang Nga, vân du khắp xứ lưu ảnh, được sự Cung Thỉnh Bộ Ngoại Giao Đặt Xứ Toàn Quyền bấy giờ, Ngài Thứ Trưởng Nguyễn Thanh Sơn cung Thỉnh Ôn với Hoà Thượng Toàn Đức.
Hình ảnh Ôn vân du đến Tứ Đại Danh sơn- Trung Quốc.
Trong những năm 2013 con có nhân duyên hầu Ôn, Ôn Thái Hoà, Thượng Tọa Vân Pháp, Ni Trưởng Minh Tánh, Ni Sư Như Huy, Ni Sư Diệu Đáo, và Con Minh Thế.
Cùng chư vị thiện tín: Anh Trung Toàn, Pt: Hồng Liên, Nhuận Pháp Nguyên... và một số Phật tử thiện duyên đưa Ôn trở về 4 ngọn danh sơn: Ngũ Đài, Nga My, Cữu Hoa, Phổ Đà, một số nơi tùng lâm, danh sơn Đại Phật, nơi Đại Sư Ấn Quang dịch kinh tu niệm...
Hay thay, Ôn vân du đến Thăm một số tịnh viện CaNaDa, Mỹ Quốc, Miến Điện, Lào, Thái LanSingapore, vân trình theo dấu chân đến để ngắm nhìn trong niềm pháp lạc vô biên.
Được biết, Bào đệ của Ôn là Một vị giáo Thọ sư, Giảng Sư, Dịch Giả, nhà Thơ.
Đó là:
      ".......Hòa thượng thế danh Nguyễn Ngọc Khiết, Pháp danh Nguyên Quang, Pháp tự Thích Tín Đạo, bút hiệu Ngân Thanh; thuộc dòng Lâm Tế đời thứ 44. Hòa thượng sinh năm Bính Tuất (1946) người làng Cư Chánh, xã Thủy Bằng, thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế. Thân phụ là cụ ông Nguyễn Ngọc Chút pháp danh Nguyên Đại, thân mẫu là cụ bà Hồ Thị Mài pháp danh Nguyên Khiết. Thầy sinh ra trong một gia đình mộ đạo và là em út của 5 chị anh. Trong đó có vị vừa là bào huynh vừa là pháp huynh là Hòa thượng Thích Lưu Thanh.
Năm 19 tuổi (1965) thầy phát tâm xuất gia tu học với cố Hòa thượng Thích Mật Hiển, Tổ đình Trúc Lâm Huế.
Năm 1967 được Bổn sư cho thọ Sa di phương trượng tại Tổ đình, trong  năm này Hòa thượng đã trúng tuyển vào kháo Cao đẳng chuyên khoa Phật học Liễu Quán tại chùa Linh Quang-Huế
Sau biến cố Mậu Thân 1968, Hòa thượng chuyển vào Phật Học viện Hải Đức - Nha Trang và tiếp tục chuyên trình học tập tại trường Trung học Bồ Đề - Nha Trang. Cũng năm này thầy đăng đàn thọ Cụ túc giới tại Giới đàn Phật Học viện Hải Đức.
Sau khi tốt nghiệp Tú tài I, II được Học viện chuyển vào Sài Gòn, ở tại Tu viện Quảng Hương Già Lam và tiếp tục chương trình Đại học.


ht luu thanh 3ht luu thanh 5

Đã theo học Cử nhân tại các trường Đại học Văn khoa Sài Gòn và Đại học Vạn Hạnh.
Sau năm 1975, Hòa thượng về ẩn tu và sinh hoạt theo tinh thần Thiền nông của Tổ Bách Trượng tại chùa Như Pháp, huyện Tiểu Cần , tỉnh Trà Vinh.
Năm 1979 trở về trú xứ Già Lam, tiếp tục học khóa chuyên khoa bồi dưỡng Phật học Cao cấp. Trong thời gian này Hòa thượng được mời dạy môn Duy Thức Học cho lớp Ni sinh tổ chức tại chùa Già Lam, Từ Thuyền.
Năm 1987 Ni sư Trí Hải mời dạy Tư Tưởng Kinh Điển Đại Thừa tại Ni viện Tuệ Uyển, thuộc Phật Học viện Vạn Hạnh.
Năm 1990 nhận lời mời đến dạy tại Trường Cơ bản Phật học tỉnh Hậu Giang về môn sử Phật giáo.
Năm 1991 được mời thỉnh giảng môn Lịch sử và Tư Tưởng Phật giáo thuộc khoa Sử Địa, Đại học Cần Thơ.
Năm 1994 thầy giảng dạy tại các Trường Phật học Cần Thơ và Sóc Trăng.
Năm 1996 giảng dạy môn Sử Phật giáo cho các trường: Phật học Thiên Khánh và Thiên Phước tại Long An; cũng thời gian này Hòa thượng đã được mời dạy các trường Hạ chùa Kim Cang (Thủ Thừa), chùa Hòa Bình, chùa Bồ Đề (Cần Giuộc), tịnh thất An Hòa (Thủ Đức), Tịnh xá Trung Tâm, Tịnh xá Ngọc Phương thuộc hệ phái Khất sĩ ở Tp.Hồ Chí Minh.
Năm 1997, trường Cao đẳng và Trung cấp Phật học mời dạy môn Duy Thức Học và Tư Tưởng Đại Thừa tại chùa Vĩnh Nghiêm (Tp.Hồ Chí Minh).
Năm 1998, Giáo thọ sư bộ môn Duy Thức học cho lớp Cao Đẳng chuyên khoa Phật học Cần Thơ.
Năm 2003, thể theo lời mời của Hòa thượng Viện chủ chùa Trang Nghiêm tại Pakse. Hòa thượng đã sang thăm nươc Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, trong dịp này thầy đã đi tham quan các danh lam thắng cảnh tại Thủ đô Viêng Chăn (Lào) và một số thắng cảnh tại Thái Lan.
Hòa thượng đã trở về Tổ đình đảnh lễ bảo thápTổ và Bổn sư. Thăm hỏi nhị vị Hòa thượng Pháp huynh. Sau đó Hòa thượng cũng đã nhờ con cháu đưa đi thăm viếng mộ phần của song thân và Tổ tiên ông bà.
Sau đó Hòa thượng trở lại Quảng Hương Già Lam để đảnh lễ niệm ân chư Tôn đức tại trú xứ đã hoan hỷ  cùng Hòa thượng tu học trong hơn 40 năm hành đạo tại niềm Nam.
Hòa thượng đã an nhiên thị tịch lúc 4 giờ 10 phút ngày mùng 8 tháng 6 năm Giáp Ngọ (4/7/2014): thọ 69 tuổi đời và 46 hạ lạp.
Một số tác phẩm đã thực hiện:
Diệu Huệ Dòng Nữ Kinh (dịch giảng và chú thích, 1984).
Tuệ Trung Thượng Sĩ (Thiền Học, 1993).
Để lại cho ai (Thi tập, 1968).
Nguồn suối êm đềm (Tập truyện ngắn, 1970).
Mây ngàn (Thi tập, 1988).
Màu hoa tưởng niệm (Nhạc).*
Và Một số dịch phẩm khác...."

       Cuộc đời của Ôn và Người Bào đệ của Ôn là tấm giương soi chiếu cho chúng con.
Ngoài ra Ôn cũng là vị giáo thọ sư cho các đại giới đàn. Hình ảnh dung dị, giọng ôn hơi lấp nhưng ai cũng cung kính tôn ngưỡng, vì hạnh tu Ba la mật.
Chúng con cung kính Bái biệt Ôn về cảnh Phật.
Nam Mô Từ Lâm Tế Chánh Tông Tứ Thập Tứ Thế, Liễu Quán Pháp Phái, Xuân Kinh Trúc Lâm Đại Thánh Tự Đường Thượng, Huý thượng NGUYÊN hạ TỊNH, Tự LƯU THANH, Hiệu NGÂN BÌNH, Trưởng Lão Hoà Thượng Giác Linh.
                 Tk: Thích Minh Thế
                 Bút danh: Hỷ Tâm Hải Triều.
                 Bút hiệu: Tịnh Nhật Vân Quang
                 Ngày 20-06-2020.
                 Ngày Âm Lịch: 29-04- Nhuận- Canh Tý.
.......
Ghi chú:
*: Trích Nguồn tiểu Sử Của Hoà thượng Tín Đạo- trang nhà Phật giáo Huế.vn.
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
10/04/2013(Xem: 12079)
Căn cứ theo tài liệu nghiên cứu của Thiền sư Mật Thể trong cuốn Việt Nam Phật Giáo Sử Lược, thì dưới triều chúa Nguyễn ở đàng Trong, phong trào phát triển Phật giáo nói chung và Thiền phái Lâm Tế nói riêng bành trướng rất mạnh mẽ ; đồng thời, đã lưu lại cho nền văn học Phật giáo nhiều kiến trúc mỹ thuật, hội họa rất nổi tiếng. Tuy nhiên, khi nhà Tây Sơn thống nhất đất nước, kéo quân từ Nam ra diệt Nguyễn thì đoàn quân lính nầy đã hủy diệt đi những công trình quý báu đó. Bi ký, chứng liệu bị thất tung.
10/04/2013(Xem: 9568)
Hôm nay dưới bóng mát thiền lâm Thiên Thai pháp phái, trước giây phút thiêng liêng tỏa ngát hương đàm, chúng con đang qui tụ về đây, nơi vùng đất Thánh, nơi đã ghi đậm nét lịch sử một đời người xuất thị nhập sơn, tầm rong độ nhật, nơi Ngài đã thể hiện công án thoại đàu, luôn luôn quấn quýt đeo đẳng tâm tư với những tháng năm dài chẻ chia suy cứu- Thiền pháp trầm tịch nhưng hưng suy, trừng thanh nhưng hoạt diễm ấy đến nay vẫn còn phong khí nức hương
10/04/2013(Xem: 11867)
Nhận được tin từ cố đô Huế, Việt Nam, Trưởng Lão Ni, Sư Cụ Thích Nữ Diệu Trí, thế danh Hồ thị Trâm Anh, Húy thượng Trừng hạ Khương, Đạo hiệu Liễu Nhiên, đời thứ 42 dòng Thiền Lâm Tế, Viện chủ chùa Diệu Đức, Trú Trì chùa Diệu Nghiêm, thành phố Huế, đã xã báo thân, an nhiên thâu thần thị tịch vào lúc 19 giờ 05 phút ngày 23 tháng 3 năm 2010 (nhằm ngày mùng 8 tháng 2 năm Canh Dần), trụ thế 103 năm, với 78 tuổi đạo.
10/04/2013(Xem: 10975)
Truyện của tôi không đáng gì mà phải ghi. Chỉ vì truyện ấy, hơn vài thập kỷ trước thập kỷ 2530 (1975-1985), có liên quan đến Phật giáo VN, lại bị hư cấu truyện và phim sai quá nên phải ghi. Nhưng ghi như dưới đây thì chỉ là có còn hơn không mà thôi.
10/04/2013(Xem: 9827)
Lễ Giỗ Tổ Nguyên Thiều tại Tu Viện Nguyên Thiều, Sydney, Úc Châu ngày thứ hai, 26-11-2007
10/04/2013(Xem: 11817)
Hòa Thượng Thích Trí Tịnh, thế danh Nguyễn Văn Bình, sinh ngày 02 tháng 09 năm Đinh Tỵ (17-l0-1917), tại làng Mỹ An Hưng ( Cái Tàu Thượng) huyện Châu Thành, tỉnh Sa Đéc (Đồng Tháp). Thân phụ là ông Nguyễn văn Cân và thân mẫu là Cụ bà Nguyễn Thị Truyện. Cụ Ông qua đời lúc H.T lên ba, Cụ Bà cũng theo Ông lúc Ngài vừa lên bảy.
09/04/2013(Xem: 10530)
Nước ta từ sau ngày Doãn Quốc Công Nguyễn Hoàng (1558 - 1613) vào trấn thủ đất Thuận Quảng, dần dần biến thành một vùng cai trị riêng cắt đứt liên hệ với vua Lê ở miền Bắc, lấy sông Danh làm ranh giới chia cắt Việt Nam thành hai mà sử gọi là Đàng Trong và Đàng Ngoài.
09/04/2013(Xem: 14570)
Hòa Thượng Pháp danh thượng Tâm hạ Ba, tự Nhựt Quang, hiệu Bửu Huệ thuộc đời 41 dòng Lâm Tế (chữ Nhựt) và đời 43 thuộc phái Thiên Thai (chữ Tâm). Húy danh: Nguyễn Văn Ba, sanh năm Giáp Dần (1941), tại Xã Tân Hương, huyện Bến Tranh, Tỉnh Ðịnh Tường (Nay là Tỉnh Tiền Giang). Thân phụ là Ông Ðặng Văn Cử, thân mẫu là Bà Nguyễn Thị Thu. Hòa Thượng theo họ mẹ, cũng là người con thứ ba trong gia đình gồm hai anh em.
09/04/2013(Xem: 10376)
Ôn Từ Đàm (Hòa thuọng Thích Thiện Siêu) với tôi vốn không có duyên nghĩa thầy trò; mặc dù, vào đầu thập niên 1960, Ôn là Giáo thọ tại Phật Học Viện Hải Đức Nha Trang trong khi tôi là một học tăng ở đó. Những tháng năm này, tôi là nguòi được theo học trường Võ Tánh nên thời khóa sinh hoạt của tôi không bị câu thúc chặt chẽ; và vì vậy, ít có cơ hội gần gũi với các bậc thầy lớn như Ôn.
09/04/2013(Xem: 8764)
Trúc Lâm Đại sĩ là vua thứ tư nhà Trần, con của Thánh Tông, lên ngôi ngày 12 tháng 2 năm Mậu dần (1278). Trước khi Đại sĩ ra đời, Nguyên Thánh Hoàng Thái hậu nằm mộng thấy thần nhân đưa cho hai lưỡi kiếm bảo : "Có lệnh của Thượng giới, cho phép ngươi được chọn lấy". Bỗng nhiên được kiếm, Thái hậu bất giác rất vui, nhân đó có thai. Những tháng dưỡng thai, nhà bếp dâng thức gì Thái hậu cứ dùng như thường, chẳng cần kiêng cử mà thai cũng chẳng sao.