Hoài Niệm Ân Sư

10/06/202016:48(Xem: 9151)
Hoài Niệm Ân Sư

HT Thích Phước Sơn

HOÀI NIỆM ÂN SƯ

(Lời cảm niệm của Thích Minh Hải đối với Hoà thượng Ân sư

trong lễ tưởng niệm thọ tang tại Trung Tâm Phật Giáo Chùa Việt Nam - Houston, Texas, Hoa Kỳ)


 

Nam mô Bổn sư Thích ca Mâu ni Phật

Kính bạch Hoà thượng Viện chủ Trung Tâm Phật giáo chùa Việt Nam,

Kính bạch Chư tôn Hoà thượng, Thượng toạ, đại đức Tăng Ni, cùng quí đạo hữu


Hôm nay là ngày 8 tháng 6 năm 2020. Trong không khí trầm mặc tại Đại hùng Bảo điện Tùng lâm chùa Việt Nam, thành phố Houston, Texas. Chúng con nơi đây đang lắng mình nén trọn thổn thứcđê đầu đảnh lễ chư Tôn thiền đức Tăng-già hiện tiền, cho phép chúng con được bày tỏ đôi lờitâm tình với Hoà thượng Ân sư. Ngay tại giờ phút này tại Thiền viện Vạn Hạnh- Việt Nam cũng đang diễn ra truy niệm để cung thỉnh nhục thân Hoà thượng Ân sư làm lễ trà tỳ, khép lại một chu trình sanh diệt, mượn thân tứ đại giả huyễn thị hiện ở cõi đời để tuỳ duyên thực hành đại nguyện.


ht phuoc son (1)
Thầy đọc sách trong thư phòng

 

 

Kính lạy Giác linh Thầy!

Trong kinh sử có muôn ngàn định nghĩ về Đức Thế Tôn, “Như Lai đã đến như vậy và đã đi như vậy.” Con hay dùng ngôn từ ấy để gợi nhớ về hình ảnh của Hoà thượng Ân sư, như nói lên một bậc giải thoát giữa cõi đời. Ở một khía cạnh nào đó, cuộc đời của Thầy có bóng dáng của một bậc thức giả, sống cẩn mật giản dị nhưng đầy thanh cao của bậc Thầy phạm hạnh. Có gần gũi mới cảm nhận sâu sắc hơn qua ngôn từ chân chất và thân giáo uy nghiêm ở nơi Thầy.


ht phuoc son (2)Đệ tử Thích Minh Hải hầu bên Thầy

Thầy là một người rất kiên nhẫn và cẩn mật, nhớ những ngày tháng ở Vạn Hạnh, mỗi lần con đánh máy bản thảo xong, Thầy đã cần mẫn đọc lại từng chữ, chấm vết từng câu, rồi còn dạy con thêm chỗ này, hay bớt chỗ kia để hợp với văn phong tiếng Việt khi dịch từ Hán ngữ. Trong thiền thư có cả mấy ngàn cuốn sách, hình như cuốn nào cũng có dâu bút Thầy ghi chú và đánh dấu lại những điều Thầy tâm đắc. Chính vì sự nhẫn nại ấy đã un đúc nên một phẩm chất phi thường khi thân tứ đại hành hạ bởi bệnh khổ, Thầy vẫn điềm nhiên, chánh niệm tĩnh giác, an trú với hơi thở, nghe những lời dạy của đức Phật trong kinh tạng Nikāya, mà không hề biểu hiện sự mỏi mệt hay đau đớn.

Trên bước đường tu có những lúc chúng con gặp chướng ngại bởi lòng người suôi ngược hay thế sự cuồng phong. Thầy đã dạy rằng:“Hãy giữ tâm kiên định,vì mình đâu có thương tất cả ai đâu mà bảo ai cũng thương mìnhĐường đến với đạo không dành cho ai yếu đuối và bạt nhược. Nếu tu đạo mà dễ dàng thì ai cũng chứng quả hết rồi, đâu còn ai ở cõi hồng trần này nữa.” Chỉ đơn giải vậy thôi, mà lại quí giá vô cùng, càng sống và càng trải nghiệm mới thấy được những lời Thầy dạy thâm sâu biết chừng nào.

Thầy rất ít nói, nhưng trong lời nói của Thầy chứa đầy cả bài học quí giá. Có khi hành động của Thầy là điều mà Thầy muốn khai thị, một phong cách rất riêng nhưng mang đậm chất người Phù Cát, của xứ Bình Định. Ngày con lên đường đi du học, món quà mà Thầy tặng cho con, đó là cuốn sách Bút ký đường Tăng, một bút sử ghi lại chặng đường của Ngài Huyền Trang từ Đại đường sang Tây Vực cầu pháp thỉnh kinh. Đến đất khách quê người, nơi hoàn toàn mới lạ về văn hoá, ngôn ngữ, giáo dục, và đời sống xã hội. Con mới hiểu ra ý Thầy muốn dạy gì cho chúng con. Và cứ mỗi lần khi gặp những khó khăn trên bước đường tu học, thì con mở ra đọc một chương, rồi tự nhũ với bản thân rằng, hãy vững tâm để bước về phía trước.

 

ht phuoc son (3)
Thầy và Ôn Tuệ Sỹ


Cuộc đời Thầy thích ẩn tu, vui thú với đèn sách, kinh thi sớm chiều, muối dưa rau cải đạm bạc, một lòng gác ngoài tai lợi danh, muôn hạnh Thầy gắn vào hai chữ sắc không. Thế sự bao nổi bão giông, thị phi nghiệt ngã, nhiêu chuyện được mất, luôn giữ hạnh tuỳ duyên.

 

Kính lạy Giác linh Thầy!

Nhờ duyên lành sẵn có, được gặp Thầy học đạo Như Lai, sớm hôm sáng tỏ đạo mầu, thiền tông giáo nghĩa khai hoa. Cứ ngỡ rằng duyên Thầy trò mãi còn sum họp, nào ngờ đâu, thân ngủ uẩn sắc không, không sắc. Xót cảnh mây trôi nước chảy, đau quạnh lòng kẻ ở lại khi Thầy nhẹ gót về Tây.

Dẫu biết rằng đến đi và ẩn hiện của bậc thức giả như cánh nhạn lướt giữa hư không, chẳng có gì lưu ảnh. Những việc cần làm Thầy đã làm và gánh nặng Thầy đã bỏ xuống. Thầy đã dạy chúng con, hãy là người thừa tự chánh pháp của đức Như Lai, chớ đừng là người thừa tự tài vật. Chỉ có chánh pháp mới mang lại hạnh phúc lâu dài cho người thừa tự.

Thôi thì những gì đến cũng đã đến, chúng con đành phải chấp nhận một sự thật như thế, nhưng để chấp nhận những dòng suy nghĩ này thì cần thời gian và tiếp nối đạo nghiệp của Thầy đã di huấn.

 

Kính bạch quí Ngài!

Cho con xin sám hối vì đã trải lòng với Ân sư của con hơi dài dòng trong giờ phút này, vì đại dịch Covid-19, đã ngăn cản một việc, mà con chưa bao giờ nghĩ tới, đó là con không về Vạn Hạnh được đảnh lễ và thọ tang Thầy lần sau cuối trước khi vĩnh biệt ngàn thu. Trong nỗi đau thương đó, hạnh phúc thay! Chúng con được chư Hoà thượng, Thượng toạ, đại đức Tăng Ni, cùng quí đạo hữu thân tình tại Trung tâm Phật giáo chùa Việt Nam và vùng phụ cận thương tưởng, nhớ nghĩa ân tình đới với Hoà thượng Ân sư của chúng con, đã thân lâm đến đây tham dự buổi lễ này. Chúng con đặc biệt niệm ân sâu sắc đến Ôn Hoà thượng viện chủ Chùa Việt Nam, một bậc Thầy và cũng là một thân hữu thâm tình với Ân sư của chúng con. Cũng như Hoà thượng Thích Nguyên Đạt đã tạo mọi điều kiện để có được buổi lễ tưởng niệm trang nghiêm như thế này.

 

Lời từ biệt khó mong ngày tái ngộ, xin cúi đầu khấn nguyện đấng Ân sư thuỳ từ chứng giám.

Nam mô Từ Lâm Tứ Chánh Tông Tứ Thập Tứ Thế Thượng Nguyên Hạ Hùng, Tự Phước Sơn, Hiệu Thuận Tịnh Đặng Công Giác Linh Hoà Thượng Ân sư.

 

Đệ tử Thích Minh Hải khẩn đầu lễ túc!


Một số hình ảnh lễ tưởng niệm thọ của Hoà thượng Ân sư tại Trung tâm Phật giáo chùa Việt Nam – Houston, Texas, Hoà Kỳ

 
ht phuoc son (4)ht phuoc son (5)ht phuoc son (6)ht phuoc son (7)ht phuoc son (8)ht phuoc son (9)ht phuoc son (10)ht phuoc son (11)

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
02/12/2010(Xem: 11011)
Hòa thượng Thích Quảng Thiệp (1928-1998)
25/11/2010(Xem: 38256)
Trần Thái Tông là vị vua đầu của triều Trần. Ngài là đệ tử của thiền sư Viên Chứng trên núi Yên Tử. Ngài vừa làm vua vừa thực tập thiền. Ngài cũng từng thực tập thiền công án. Đây là 43 công án Vua đưa ra để cùng thực tập với tăng thân của Vua, gồm có giới xuất gia và tại gia. Thầy Làng Mai đã dịch những công án này ra tiếng Việt và tiếng Pháp năm 1968. Bản dịch tiếng Pháp xin xem ở phần phụ lục cuốn Clé Pour Le Zen, tác giả Nhất Hạnh, do nhà xuất bản JC Lattes ấn hành. Bản Hán Việt có trong Thơ Văn Lý Trần quyển II (Quyển thượng, trang 108-121), NXB Khoa Học Xã Hội.
24/11/2010(Xem: 15761)
Tiểu sử nhà văn Quách Tấn
15/11/2010(Xem: 10816)
Vào ngày 1-11-1963 khi quân đội đứng lên làm cuộc đảo chánh lật đổ chế độ của gia đình Ô. Ngô Đình Diệm - mà Hội Đồng Quân Dân Cách Mạng do Đại Tướng Dương Văn Minh cầm đầu gọi đó là cuộc “Cách Mạng” thì tôi là cậu sinh viên Luật Khoa Năm Thứ Nhất, chuẩn bị thi lên Năm Thứ Hai của Đại Học Luật Khoa Sài Gòn. Bố tôi sính đọc sách báo, vả lại gia đình cư ngụ ở xóm lao động cho nên Radio hàng xóm mở ầm ầm cả ngày khiến dù không muốn nghe nhưng cũng phải nghe tin tức từng giờ của đài phát thanh. Hơn thế nữa khi Sài Gòn nổ ra cuộc đấu tranh của Phật Giáo thì hầu như các đại học, trung học đều đóng của hoặc tự động bãi khóa.
10/11/2010(Xem: 12110)
Hoà Thượng thế danh Diệp Quang Tiền, pháp danh Tâm Khai, tự Thiện Giác, hiệu Trí Ấn Nhật Liên. Ngài sanh ngày 13 tháng 10 năm Quý Hợi (1923) tại thôn Xuân Yên, xã Triệu Thượng, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, trong một gia đình thâm tín Phật Giáo. Thân phụ là cụ Diệp Chí Hoan; thân mẫu là cụ bà Phan Thị Đường. Hai cụ sinh hạ được 5 người con : 4 nam, 1 nữ - Ngài là con thứ trong gia đình, sau anh trưởng là Thầy Diệp Tôn (Thích Thiện Liên). Năm lên 6 tuổi (1928) gia đình Ngài dời về thôn Diên Sanh, xã Hải Thọ, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Thân sinh Ngài đã rước thầy Đồ Nho danh tiếng về nhà để dạy chữ Hán cho hai con. Hai anh em Ngài thường được cụ Đồ khen là thông minh, hứa hẹn một tương lai tốt đẹp. Năm lên 10 tuổi (1932), Ngài theo học Việt Văn tại thôn Diên Sanh.
02/11/2010(Xem: 11725)
Thành kính khẩn bạch đến chư Tôn Đức Tăng Già của quý Giáo Hội, quý Tự Viện, quý tổ chức Phật Giáo cùng toàn thể chư vị thiện nam tín nữ Phật tử: Đại Lão Hòa Thượng thượng Huyền, hạ Ấn, thế danh Hoàng Không Uẩn, sinh năm 1928 tại Quảng Bình, Việt Nam
01/11/2010(Xem: 18181)
Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 1, Chùa Pháp Hoa (2000) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 2, Chùa Pháp Bảo (2001) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 3, Chùa Linh Sơn (2002) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 4, Tu Viện Vạn Hạnh (2003) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 5, Tu Viện Quảng Đức (2004) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 6, Chùa Phổ Quang (2005) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 7, Chùa Pháp Bảo (2006) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 8, Chùa Pháp Hoa (2007) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 9, Chùa Linh Sơn (2008) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 10, Chùa Pháp Bảo (2009) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 11, Thiền Viện Minh Quang (2010) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 12, Tu Viện Quảng Đức (2011) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 13, Tu Viện Vạn Hạnh (2012) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 14, Thiền Viện Minh Quang (2013) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 15, Tu Viện Quảng Đức (2014) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 16, Chùa Pháp Pháp Bảo (2015) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 17, Tu Viện Quảng Đức (2016) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 18, Chùa Pháp Hoa (2017) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 19, Chùa Pháp Hoa (2018)
01/11/2010(Xem: 49985)
Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 1, Chùa Pháp Hoa (2000) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 2, Chùa Pháp Bảo (2001) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 3, Chùa Linh Sơn (2002) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 4, Tu Viện Vạn Hạnh (2003) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 5, Tu Viện Quảng Đức (2004) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 6, Chùa Phổ Quang (2005) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 7, Chùa Pháp Bảo (2006) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 8, Chùa Pháp Hoa (2007) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 9, Chùa Linh Sơn (2008) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 10, Chùa Pháp Bảo (2009) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 11, Thiền Viện Minh Quang (2010) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 12, Tu Viện Quảng Đức (2011) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 13, Tu Viện Vạn Hạnh (2012) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 14, Thiền Viện Minh Quang (2013) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 15, Tu Viện Quảng Đức (2014) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 16, Chùa Pháp Pháp Bảo (2015) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 17, Tu Viện Quảng Đức (2016) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 18, Chùa Pháp Hoa (2017) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 19, Chùa Pháp Hoa (2018)
29/10/2010(Xem: 10381)
Kể từ khi vết tích của chùa Thiên Mụ được ghi lại đơn sơ trong sách Ô Châu Cận Lục vào năm 1553 (1), chùa đã tồn tại gần 450 năm cho đến ngày nay. Trải qua bao nhiêu cuộc bể dâu, chùa vẫn giữ được địa vị và vẫn đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống đạo và đời của dân Huế, nói riêng, và của dân cả nước, nói chung. Qua đầu thế kỷ 17, chùa đã thực sự đi vào lịch sử sau khi Nguyễn Hoàng vào xứ đàng trong để gây dựng cơ nghiệp đế vương với huyền thoại “bà tiên mặc áo đỏ” (9).