Con Đã Thấy Pháp

18/04/202018:38(Xem: 5841)
Con Đã Thấy Pháp


ht dong chon 4


   Thầy ơi !

     Có lời dạy an nhiên nghe riết thành quen, đến khi Thầy đi con mới ngộ ra bài học lớn.

     Ngày còn ở quê, cứ lâu lâu con ghé thăm Thầy. Hồi đó sân vườn còn thấp so với bậc thềm, tam cấp hai bên hông chùa chưa kéo dài suốt như bây giờ, con leo lên bậc thềm cao đứng trước bậc cửa chắp tay, khom người tập tành:

   – A Di Đà Phật, Thưa Thầy có khỏe không?

     Thầy cười hiền hậu bảo:

 – Chết cho rồi.

Rồi cười thành tiếng, ân cần:

   – Rót nước uống đi con.

    Trăm lần như một.

    Trăm lần như một, con nhận được một tình thương gần gũi rất đặc biệt từ Thầy. Trăm lần như một, nhưng cứ lần hồi vô tâm quá lâu để năm tháng trôi qua cho đến khi  thảng thốt  nhận ra pháp thậm thâm tâm truyền thì Thầy đã không còn trụ thế.

     Ngày nhận được tin Thầy đi, hốt nhiên con nghĩ về Sự chết, lời Thầy sầm sập đổ xuống tâm con. Nhớ về lời Thầy dạy,  khởi ngộ về cái chết thì Thầy đã muôn trùng để con loay hoay giữa lý và sự, giữa thể và chất, giữa hữu và vô … mà không biết nương tựa vào đâu.

     Hốt hoảng với sự ra đi của Thầy con niệm soi về sự chết trong tâm. Hóa ra lâu nay những gì con biết về sự chết và nói ra rả về nó để chứng tỏ mình, trong phút chốc chỉ đong đầy vẻn vẹn  nụ cười vi tiếu. Con đã thở vào một hơi dài hơn mấy chục năm để mới thở ra hiểu được sự sâu thẳm trong lời Thầy truyền cho con,  ngay trong khoảnh khắc nhận được tin Thầy viên tịch.

    Quá nửa cuộc đời bạt gió, bon chen thế sự con chỉ luôn nghĩ về cõi sống, lao theo kiếp sống mong  thỏa chí tang bồng, cho thỏa lòng háo thắng. Rốt cục chỉ là trơ trọi giữa khoảng không, tâm úp mở thấp cao, lôi thôi nhếch nhác  thế nào là vui là khổ. Muốn nghe lời Thầy về lại chùa xưa tác nghiệp chăn trâu, nhưng nghiệp cõi nhân gian tựa hồ thiên xích lãng, hai chữ Bình An giờ ai dạy cho con. Bình an còn, nhưng giờ nương tựa vào đâu để được Bình an.

    Ngày xưa – con thường  nói như vậy, để nhớ về một quãng đời hữu duyên được sống gần Thầy. Ngày xưa Chùa mình nghèo lắm, gạo ăn chẳng lúc nào giáp hạt, thức ăn rau muối thường ngày, tương chao đôi khi còn hiếm. Bên cạnh giếng có mấy cây Dừa cho trái, thi thoảng lấy cơm dừa khô già vùi vào khạp muối rồi đem ra nướng trên bếp củi, bếp rơm. Cái ăn đã khó mà việc xin phép lưu trú của các Thầy, các chú cũng gặp khó khăn. Thế  nhưng sự học ở Chùa mình chưa bao giờ đứt đoạn. Việc học tập ở chùa như một dòng sông miệt mài chảy, cần mẫn chỉnh chu với nguồn khơi không dứt của Thầy.

  Có những năm các Thầy các Chú tựu về học tập, sáng ra một nồi cháo lớn với muối mà cũng sạch nhẵn nồi. Chúng con vững tâm nương tựa vào Thầy nên cái khó và cái khổ chưa bao giờ làm tắt niềm vui của chúng con trong  những giờ học tập, công phu với những đêm tối đen hay lung linh trăng sáng mà đường cước đường quyền sạt sạt trên nền đất sân chùa. Chúng con tuổi trẻ cũng lắm trò, nhưng Thầy vừa nghiêm lại vừa bao dung nên chúng con có thọ trách phạt cũng bằng tâm hoan hỉ, ký ân. Dưới cội Bồ đề chở che của Thầy, chúng con cứ hồn nhiên trưởng thành bằng sự thấm đẫm  tinh thần  cầu học để tu sửa mình, để tin và thấy đích đến của mình trên con đường tăm tắp xa.

    Con nhớ những ngày chỉ có Thầy và con ở Chùa, Thầy dạy con cách thỉnh Đại hồng chung   trên lầu chuông  để pháp âm không bao giờ đứt quãng, mãi giữ  yên bình trên một miền quê.  Nhờ phước duyên ấy mà con biết giữ cho mình một cuộc sống thiện lương trước những hỉ nộ tham sân trong từng bước đi giữa cõi đời này.

    Khi báo tin  Cha con đi, Thầy bùi ngùi: “ Cha con là người chỉ cần nói là Thầy hiểu, và Thầy mới nói là cha con hiểu.” Con biết Thầy dành tình thương cho con đến mức nào.

    Cha con đã dạy  con thành người tử tế, phải biết sống thế nào cho phải Đạo, cho phải lẽ nên mỗi hành vi trong đời sống của con luôn có bóng Cha và  lòng chưa bao giờ thôi khóc.

    Thầy ơi! Thầy dạy cho con nghiệm thông về sự chết để con hiểu lẽ vô thường, biết lấy cái vô thường năng đoạn vô thường, thế mà tâm lệ con chắc chẳng thôi rưng rưng trong quãng vô thường còn lại khi nhớ đến Thầy .

    Thầy ơi! ngày thầy đi con không về được để quỳ dâng nén hương thành tâm hành lễ. Nơi chốn xa, lòng rưng rưng con chỉ biết chắp tay hướng vào không trung đảnh lễ Thầy trong giờ phút Nhật – Nguyệt chẳng còn phân chia.

     Hữu duyên hạnh ngộ lời dạy của Thầy mãi miết  bao nhiêu năm,  đến khi nghe tin Thầy viên tịch con mới hốt nhiên ngộ ra. Trong Vô lượng Pháp con đã tìm được một Pháp tu tập là nhớ nghĩ về Thầy. Nhớ nghĩ về Thầy là nhớ nghĩ lời Thầy dạy, là nhớ nghĩ và sống theo đức hạnh tu tập của Thầy, như vậy cũng chính là đang tu theo Pháp Phật, là thấy Phật.

     Phải chăng đây là dấu tích cho con tìm Thầy khi “chết cho rồi”, dầu con là đệ tử chưa làm lễ Quy y, chưa có Pháp danh; nhưng con biết niệm “ Nam mô A Di Đà Phật” như Thầy đã dạy.

Nam mô A Di Đà Phật.

 Tháng 03 năm 2020

 Kính Thầy

 Con: Nguyễn Ngọc Hải

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
25/03/2011(Xem: 9744)
Hòa Thượng Thích Phước Huệ (1875-1963)
25/03/2011(Xem: 10545)
ĐPNN: Là một trong những nhạc sĩ PG đầu tiên được ghi nhận công lao đóng góp cho văn hóa PG trong quyển 50 Năm Chấn Hưng Phật Giáo của cố HT.Thích Thiện Hoa, NS Hằng Vang từng đoạt giải nhất cuộc thi sáng tác Phật nhạc do GHPGVNTN tổ chức, trao giải thưởng ngày 25-2-1965 tại nhà hát lớn Sài Gòn. Các trung tâm văn hóa PG trong và ngoài nước đã xuất bản hơn 20 album của NS Hằng Vang theo các hình thức cassettes-CD-VCD ca nhạc, kinh nhạc và 20 album cassettes-video-CD-VCD-DVD cũng như 8 tuyển tập ca nhạc đứng chung với nhiều tác giả khác.
24/03/2011(Xem: 9323)
Hòa Thượng Thích Trí Chơn, thế danh Trương Xuân Bình, sinh ngày 20 tháng 11 năm 1933 (Quý Dậu) tại Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận (Trung Việt)
21/03/2011(Xem: 8652)
Tôi đã sống với một con người với tất cả ý nghĩa của Người trong một thời gian tương đối dài giữa một giai kỳ buồn vui pha trộn. Có thể nói Gs Phạm Công Thiện là người có một cách sống giản dị, không kiểu cách, cầu kỳ, ngược lại rất khiêm cung và nhẫn nại, nhẫn nại ngay cả trong hoàn cảnh rất khó nhẫn.
17/03/2011(Xem: 8002)
Hòa Thượng thế danh là Phạm Kim Huệ, sinh năm Giáp Tuất, ngày 02-4-1934 tại làng Cẩm Phô, quận Điện Bàn (nay là thành phố Hội An), tỉnh Quảng Nam, Việt Nam. Thân phụ của Hòa Thượng là Cụ Ông Phạm Kim Cái pháp danh Như Thế, và Thân mẫu là Cụ Bà Nguyễn thị Di pháp danh Như Kim, đều làm nghề Đông y. Hòa Thượng là con thứ sáu trong gia đình gồm sáu anh chị em. Sinh trưởng trong một gia đình nho học, thâm tín Phật giáo, nên lúc tám tuổi Ngài được gia đình cho vào chùa học đạo.
15/03/2011(Xem: 10554)
Tôi biết tin GS Phạm Công Thiện mất qua trang web viet-studies của GS Trần Hữu Dũng post ngày 10-3. Dòng thông tin được dẫn từ báo Người Việt ở Houston, bang Tesas cho biết theo gia đình và Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất ở Mỹ xác nhận ông mất ngày 9-3-2011, thọ 71 tuổi. Trước khi mất dường như ông đã biết trước cuộc vĩnh ly này nên nhập định rồi ra đi nhẹ nhàng. Ngoài dòng báo tin của báo Người Việt còn bài viết cho người đã mất của nhà văn Viên Linh với tư cách bạn bè.
12/03/2011(Xem: 10390)
Phạm Công thiện, ông là ai? Có nhiều người đã hỏi như thế. Triết gia? Thiền sư? Thi sĩ? Văn sĩ? Hay là một người lang thang rong chơi trong cuộc đời ? Hay là nghệ sĩ với ước vọng thành một tài năng lớn của thế giới? Hoặc là một người đang trong cơn mộng du suốt cả đời? Trần Tuấn Kiệt trong một bài viết trong “Tác Giả Tác Phẩm“, xuất bản cách nay gần bốn chục năm, cũng nói về chân dung người thi sĩ rất mực nghệ sĩ này:
25/02/2011(Xem: 9747)
Lễ huý nhật Ôn Trí Thủ năm 2005 tại Quảng Hương Già Lam
19/02/2011(Xem: 7968)
Đức Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Huyền Tôn, đệ tử của Đệ Lục Tổ Sư Thiên Ấn Tự, Hòa Thượng Tăng Cang Thích Chơn Trung, thế danh Nguyễn Thái Long, pháp danh Như Kế, pháp tự Giải Tích, pháp hiệu Huyền Tôn. Ngài sinh năm Mậu Thìn (1928.Việt lịch: 4807) tại làng Châu Nhai, Huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi, Việt Nam. Thân phụ, bán thế xuất gia là Đại Sư thượng Như hạ Quý (1874-1942), Thân mẫu là Cụ bà Thái Thị Túc, pháp danh Như Chỉnh, tự Giải Lý (1891-1945).