Đôi dòng hồi tưởng về Thầy

14/04/202011:44(Xem: 6996)
Đôi dòng hồi tưởng về Thầy

ĐÔI DÒNG

HỒI TƯỞNG VỀ THẦY…

Buổi sáng ngày 29/2 Canh Tý (nhằm ngày 22/3/2020), vào lúc 10g00 Con nhận được điện thoại của Thượng Toạ Giác Hiệp cho hay sư phụ bệnh nặng và chắc không qua khỏi… nên huynh đệ sắp xếp về gấp. Con nghe tin như sét đánh và không tin vào chính mình. Và để chắc chắn hơn, con gọi cho Sư cô Giác Tịnh nhưng điện thoại không liên lạc được và có điềm gì xấu đang xảy ra. Con liền gọi cho chị Cân hỏi thăm tình hình sức khoẻ sư phụ. Chị Cân cho biết sư phụ vừa mới mất nên quý thầy sắp xếp về lo đám tang sư phụ. Lúc này, con đã tin là sự thật và tim con đập run liên hồi và không còn đủ lý trí đặt vé máy bay để kịp về với sư phụ không?

Không khí sân bay ngày hôm nay khác lạ, không nhộn nhịp như những ngày vốn có của cảnh tiễn đưa “kẻ ở người đi” mà bao trùm không khí im lặng, thanh vắng, không ồn ào, không náo nhiệt… bởi lẽ do dịch Covid-19 đang xảy ra cướp đi hàng ngàn sinh mạng trên khắp thế giới hay là không khí buồn tang thương vì sự sống sinh tử vô thường, có sinh ắt có diệt. Trong thời gian ở sân bay Tân Sơn Nhất chờ đợi trở về với thầy, nhiều kỷ niệm về thầy bỗng ùa về trong tâm trí của con…

Con vẫn còn nhớ vào ngày 21 tháng 7 năm Giáp Tuất (nhằm ngày 27 tháng 8 năm 1994), là thời điểm ba anh em chúng con bao gồm Con, Hiếu và Hoảng xin phép gia đình cùng nhau đến chùa Bình An xuất gia tu học. Ngày đầu tiên, chúng con xa gia đình đến đảnh lễ thầy xin xuất gia tu học. Lúc đó; con vẫn nhớ hình dáng thầy chân chất của người nhà quê, thầy ngồi kiết già vững chãi trên chiếc ghế gỗ dài, bên cạnh là những cuốn sách nghiên cứu kinh-luật để trên bàn và giọng nói trầm ấm. Thầy ân cần hỏi tên từng đứa, hỏi bao nhiêu tuổi và thầy dạy bảo anh em chúng con rất nhiều vấn đề là cố gắng tu học tốt để sau này phụng sự đạo pháp… Giây phút ấy, con cảm nhận được năng lượng từ bi, tình yêu bao la thầy dành cho chúng con. Thời gian xuân hạ thu đông cứ thế trôi đi, năm tháng tương chao, rau muống, dưa cà… của chùa Bình An nuôi dưỡng huynh đệ chúng con khôn lớn từng ngày. Chùa Bình An lúc đó thiếu trước hụt sau, ngoài những tháng ngày ăn cơm với rau muống, rau lang… trò ăn gì thầy ăn đó. Thỉnh thoảng đến ngày rằm hay mồng một, quý Phật tử cúng cho miếng đậu hủ, chút dưa cà vào chùa để thay đổi thực đơn. Những năm tháng con sống ở chùa Bình An tuy không thiếu thốn, không khó khăn nhiều như những ngày quý sư huynh trước con đã ở; nhưng tấm lòng thương yêu thầy rất bao la. Thầy luôn luôn bên cạnh chăm sóc chúng con mỗi khi huynh đệ có ai bị ốm đau, có khi thầy nhắc nhở chúng con nếu lơ là việc tinh tấn tu tập mỗi ngày.


thich giac tho
Con còn nhớ, những buổi sáng sau giờ công phu khuya 4g00 sáng của đại chúng (lúc đó thầy đánh chuông đại hồng chung), thầy tiếp tục công phu hành trì kinh Lăng Nghiêm và trì tụng kinh Diệu Pháp Liên Hoa đến 6g00 sáng mỗi ngày. Trên chánh điện, thầy một mình công phu tu tập với tiếng mõ tụng kinh; ở dưới nhà bếp, chúng con lấy củi đun nước sôi chế bình thuỷ, nấu cháo tranh thủ đọc sách, học bài, học kinh kệ hay ôn lại những gì thầy đã dạy qua những câu chữ hán âm – nghĩa của bốn bộ luật, kinh Di Đà sớ sao… để kịp ngày mai lên lớp học thầy hỏi chúng con trả lời. Thầy là một tấm gương sáng không chỉ thực hành nghiêm túc trong tu tập mà còn dành nhiều thời gian tâm huyết đến sự nghiệp giáo dục Phật giáo, nhằm đào tạo nhân tài cho Phật giáo tỉnh Bình Định nói riêng và Giáo hội Phật giáo nói chung. Hằng ngày, hằng tuần cho dù thời gian sáng sớm hay chiều tối; trời nắng gắt khô hạn hay những cơn mưa dài ngày của đất miền Trung… thầy vẫn một mình chạy xe đến Trường Trung cấp Phật học Tu viện Nguyên Thiều đứng lớp giảng dạy. Mùa an cư kiết hạ, thầy ân cần đi giảng dạy cho tứ chúng hành giả an cư tại các trường hạ trong tỉnh Bình Định. Ngoài ra, thầy còn mở những lớp nho giáo dạy tại chùa Bình An nhằm trao kiến thức nội điển cũng như kinh nghiêm công phu tu tập của thầy đến các thế hệ tăng ni noi theo thầy về thân giáo và khẩu giáo.

Thời gian thấm thoát qua đi; huynh đệ chúng con dần dần cũng lớn lên theo năm tháng. Bao lớp học trò đệ tử được thầy đào tạo từ từ trưởng thành… và những người đệ tử của thầy tiếp tục đi du học nước ngoài như Ấn Độ, Đài Loan, Trung Quốc, Myanmar…; có người đệ tử vào TP.HCM, Khánh Hoà, Thừa Thiên Huế… tiếp tục đăng ký các lớp Phật học viện, hoặc có nhiều vị dấn thân con đường phục vụ chúng sinh, nhận chùa tiếp tăng độ chúng tu học… Và con cũng nằm trong số đó. Sau khi tốt nghiệp cấp 3, con từ giã thầy lên đường vào TP.HCM tiếp tục tu học và làm Phật sự. Con vẫn con nhớ ngày chia tay thầy; thầy ân cần, khuyên bảo, nhắn nhũ…con rất nhiều điều. Trước khi con lên xe đi vào TP.HCM, trong ánh mắt thầy đỏ hoe như gửi gắm và đặt nhiều niềm tin hy vọng vào con. Thầy giống như người cha, người mẹ luôn chăm lo cho những đứa con, lo lắng cho chúng con. Con cảm thất thật nhỏ bé trước tấm lòng từ bi, yêu thương và bao dung của thầy.

Trên thế gian này; tất cả các pháp duyên sinh đều giả tạm, con người và mọi thứ đều theo quy luật tự nhiên từ sinh đến lão tử. Mọi thứ dần dần thay đổi và tuổi tác con người cũng lớn dần theo năm tháng. Nay, thầy đã qua tuổi thất tuần với bao bệnh tật ốm đau của thân tứ đại. Dù thân thể đau nhức vì bệnh duyên, nhưng thầy vẫn luôn hỷ xả, bao dung và đặc biệt hằng ngày vẫn miệt mài, tận tâm với những lớp nho giáo truyền trao kiến thức đến các thế hệ tăng ni. Chúng con tuy đã học được giáo lý Vô thường nhưng đứng trước cuộc chia ly tử biệt làm sao tránh khỏi những điều bùi ngùi, chua xót. Hôm nay; duyên lành đã mãn, thầy đã ra đi mãi mãi nhưng những hình ảnh, lời dạy của thầy về thân giáo và khẩu giáo vẫn luôn hiện hũu trong dòng chảy tâm thức của những thế hệ đệ tử, học trò của thầy dưới mái chùa Bình An. Huynh đệ chúng con giờ đây đã vắng bóng tôn sư. Những lần huynh đệ chúng con ở xa về thăm thầy thì không còn được nghe âm vang lời dạy của thầy. Chúng con chỉ biết nhìn lên di ảnh và toà bảo tháp, thầy đã nằm yên nghỉ; lòng chúng con không khỏi xúc động, rơi lệ.

Giờ đây, âm thanh tiếng chuông chùa vẫn vang vọng, lời kinh tiếng kệ vẫn trang nghiêm… Huynh đệ chúng con sẽ an ủi động viên, nương tựa vào nhau cùng tu tập, cùng làm Phật sự để xứng đáng là hàng đệ tử của thầy. Huynh đệ chúng con cùng nhau cố gắng tiếp tục xây dựng và phát huy ngôi chùa Bình An ngày càng phát triển theo tâm nguyện của thầy và các bậc tiền bối Tổ sư đã để lại. Chúng con nguyện dấn thân tiếp tục con đường sự nghiệp giáo dục Phật giáo, tiếp tăng và độ chúng, phục vụ chúng sinh lợi đạo và ích đời…

Hôm nay nhân ngày tam thất trai tuần Hoà thượng tôn sư, con chỉ có đôi dòng bộc bạch trước giác linh thầy, nguyện cầu giác linh thầy từ bi chứng giám.

NAM MÔ TỪ LÂM TẾ CHÁNH TÔNG TỨ THẬP TAM THẾ, BÌNH AN TỰ ĐƯỜNG THƯỢNG, thượng ĐỒNG hạ CHƠN, hiệu MINH CHIẾU, tự THÔNG THIỆN Hòa thượng TÔN SƯ GIÁC LINH thùy từ minh chứng.

 

Quy Nhơn, ngày 11/04/2020

Đệ tử Thích Giác Thọ kính lễ

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
23/10/2010(Xem: 8927)
Trong Cây Có Hoa Trong Đá Có Lửa Kính Dâng Hòa Thượng Thích Như Điển nhân dịp mừng thọ 70 tuổi của Ngài và kỷ niệm 40 năm khai sơn Chùa Viên Giác tại Đức Quốc Tỳ Kheo Thích Nguyên Tạng “Trong Cây Có Hoa, Trong Đá Có Lửa” là lời pháp ngữ của Thiền Sư Đạo Nguyên do Hòa Thượng Thích Như Điển nhắc lại trong thời giảng Pháp của Ngài mà tôi đã nghe được khi theo hầu Ngài trong chuyến đi Hoằng Pháp tại Hoa Kỳ năm 2006. Thiền Sư Đạo Nguyên (Dogen) là người Nhật, Ngài sinh năm 1200 và tịch năm 1253, thọ 53 tuổi. Ngài là Sáng Tổ của của Soto-Zen (Thiền Tào Động) của Nhật Bản, và là tác giả bộ sách nổi tiếng “Chánh Pháp Nhãn Tạng” “Ki no naka ni, hana ga aru (Trong cây có hoa), Ishi no naka ni, hi ga aru (Trong đá có lửa)” Đó là pháp ngữ của Thiền Sư Đạo Nguyên (Dogen), được Hòa Thượng Như Điển dịch sang lời Việt. Lời thơ quá tuyệt vời, tuy ngắn gọn nhưng dung chứa cả một kho tàng giáo lý về Nhân Duyên Quả của Đạo Phật.
23/10/2010(Xem: 8845)
Trong mười thế kỷ phong kiến Việt Nam, Trần Nhân Tông là một trong những ông vua giỏi và tài hoa bậc nhất. Lịch sử đã xem ông là “vị vua hiền” đời Trần, có công lớn trong sự nghiệp trùng hưng đất nước. Văn học sẽ nhớ mãi ông bởi những vần thơ thanh nhã, sâu sắc và không kém hào hùng.
23/10/2010(Xem: 8654)
Về sự nghiệp của vua Trần Nhân Tông, đã có rất nhiều tài liệu và bài viết về hai lần lãnh đạo quân dân nước ta đánh thắng giặc Mông - Nguyên, trị quốc an dân, đối ngoại và mở cõi, nên ở đây chúng tôi không lặp lại nữa, mà chỉ đề cập đôi nét đến nội dung khác về: Trần Nhân Tông - một hoàng đế xuất gia, một thiền sư đắc đạo và là sơ tổ lập nên dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử độc đáo của Việt Nam.
23/10/2010(Xem: 8457)
Hội Phật Học Nam Việt được thành lập vào năm 1950 tại Sài Gòn do sự vận động của cư sĩ Mai Thọ Truyền. Ban đầu, hội đặt trụ sở tại chùa Khánh Hưng, và sau đó ít lâu, tại chùa Phước Hòa. Bác sĩ Nguyễn Văn Khỏe, một cây cột trụ của hội Lưỡng Xuyên Phật Học cũ đảm nhận trách vụ hội trưởng. Ông Mai Thọ Truyền giữ trách vụ tổng thư ký. Các thiền sư Quảng Minh và Nhật Liên đã triệt để ủng hộ cho việc tổ chức hội Phật Học Nam Việt. Thiền sư Quảng Minh được bầu làm hội trưởng của hội bắt đầu từ năm 1952. Năm 1955, sau khi thiền sư Quảng Minh đi Nhật du học, ông Mai Thọ Truyền giữ chức vụ hội trưởng. Chức vụ này ông giữ cho đến năm 1973, khi ông mất. Hội Phật Học Nam Việt được thành lập do nghị định của Thủ Hiến Nam Việt ký ngày 19.9.1950. Bản tuyên cáo của hội có nói đến nguyện vọng thống nhất các đoàn thể Phật giáo trong nước. Bản tuyên cáo viết: "Đề xướng việc lập hội Phật học này. Chúng tôi còn có cái thâm ý đi đến chỗ Bắc Trung Nam sẽ bắt tay trên nguyên tắc cũng như trong hành động. Sự
23/10/2010(Xem: 8008)
Cư sĩ Mai Thọ Truyền sinh ngày 01-4-1905 tại làng Long Mỹ, tỉnh Bến Tre trong một gia đình trung lưu. Thuở nhỏ ông được theo học tại trường Sơ học Pháp - Việt Bến Tre, rồi Trung học Mỹ Tho, và Chasseloup Laubat Saigon. Năm 1924, ông thi đậu Thư ký Hành chánh và được bổ đi làm việc tại Sài Gòn, Hà Tiên, Chợ Lớn. Năm 1931, ông thi đậu Tri huyện và đã tùng sự tại Sài Gòn, Trà Vinh, Long Xuyên và Sa Đéc. Hành nhiệm ở đâu cũng tỏ ra liêm khiết, chính trực và đức độ, không xu nịnh cấp trên, hà hiếp dân chúng, nên được quý mến.
23/10/2010(Xem: 13024)
Trong lịch sử dựng nước, giữ nước và xây dựng, bảo vệ Tổ quốc của dân tộc Việt Nam, vương triều Trần (1226-1400) được tôn vinh là triều đại sáng chói nhất thể hiện qua những chiến công hiển hách thắng giặc ngoại xâm cũng như chính sách hộ quốc an dân đã tổng hợp được sức mạnh của toàn dân ta cùng với vua quan trong việc bảo vệ và phát triển đất nước vô cùng tốt đẹp.
23/10/2010(Xem: 22051)
Nhiều thế kỷ trước, một vị vua đã lãnh đạo dân tộc Việt Nam hai lần đẩy lui quân Mông Cổ xâm lăng. Một hôm, vào năm 1293, vị vua anh hùng này đã rời ngôi vua, và vài năm sau trở thành một nhà sư và đã để lại một di sản Thiền Tông bây giờ vẫn còn phát triển để trở thành dòng Thiền lớn nhất tại Việt Nam. Ngài tên là Trần Nhân Tông, vị vua thứ ba của Nhà Trần và là vị sáng lập Dòng Thiền Trúc Lâm.
22/10/2010(Xem: 26841)
Vào khoảng các năm 1972–1974, Cố Hòa thượng Thích Trí Thủ, thường được Tăng Ni-Phật tử gọi cung kính gần gũi là “Ôn Già Lam”, đang trong thời gian dài hoằng pháp tại Nha Trang và các tỉnh miền Trung, Ôn tạm an trú trên chùa Hải Đức, nơi có Phật học viện Trung Phần, trên ngọn đồi Trại Thủy. Khoảnh vườn và thềm hiên phía trước tịnh thất của Ôn dần dà trở thành một hoa viên nho nhỏ với nhiều cây cảnh hoa lá đẹp lạ, là nhờ ở bàn tay chăm sóc thương yêu của một vị cao tăng đức độ nhân từ.
22/10/2010(Xem: 9341)
Chuông ngân chùa xẩm nắng Hương quyện áo tràng bay Trăm tám vì sao rạng Xoay tròn đôi 1óng tay Mười phương cây lặng gió Năm sắc hồ trôi mây Làn nước lên đầu núi Ánh vàng tràn đó đây.
21/10/2010(Xem: 10412)
Trong cõi nhân gian mịt mù tăm tối vì vô minh và phiền não, sự xuất hiện của một bậc chân tu đạo hạnh để dìu dắt con người trên đường tìm về giác ngộ và giải thoát, quả thật không khác gì một vì sao sáng trên bầu trời làm định hướng cho lữ hành trong đêm tối. Trong ý nghĩa này, Cố Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Trí Chơn là một vì tinh tú sáng rực.