Tâm Nguyện Bao La (Kính dâng Giác Linh HT Thích Đồng Chơn)

10/04/202017:44(Xem: 6106)
Tâm Nguyện Bao La (Kính dâng Giác Linh HT Thích Đồng Chơn)


ht thich dong chon-28

Tâm Nguyện Bao La



Kính bạch Giác linh Hoà thượng

 

Khi đức Thế Tôn còn tại thế, Ngài thường tán dương những vị đệ tử tu tập tinh tấn hay phụng sự làm lợi ích chúng sanh. Đó là niềm khích lệ lớn lao cho những đệ tử được bậc Thầy giác ngộ vĩ đại dành tặng. Ngược lại, Phật cũng khiển trách những vị có những lỗi lầm nhằm giáo dục họ đi đúng đường thiện, đường giải thoát. Sự khiển trách đó thể hiện lòng từ bi của đức Phật vì giáo hoá chúng đệ tử.

Đối với đức Thế Tôn, Ngài được rất nhiều người tán thán, ca ngợi như chư thiên tán thán: “giữa thiên giới, địa giới, Phật là bậc tối thắng” (Tương Ưng bộ kinh); vua chúa ca ngợi: “Thật hy hữu thay chúng Thích tử này thật khéo huấn luyện, không cần sử dụng đến gậy và kiếm” (Kinh Trung bộ); Bà-la-môn ca ngợi: “Sa môn Gotama là bậc có đủ mười hiệu”…. “Đảnh lễ Thế Tôn, bậc A-la-hán, chánh đẳng giác” (Kinh Tăng chi); đệ tử ca ngợi: con tin tưởng Thế Tôn đến nỗi con nghĩ rằng trong quá khứ, trong vị lai cũng như trong hiện tại không thể có một sa môn, Bà-la-môn nào vĩ đại hơn, sáng suốt hơn Thế Tôn về phương diện giác ngộ” (Kinh Trường bộ)…

Nhắc lại sự ca ngợi, tán thán, khen tặng để biết rằng đó là điều không thể thiếu trong cuộc sống, nhất là đời sống đối đãi cõi nhân sinh. Từ đó, xin liên hệ đến trường hợp của Hoà thượng thượng Đồng hạ Chơn.

Khi còn sanh tiền, là một bậc thầy, một giáo thọ sư, chắc chắn Hoà thượng cũng từng khen ngợi những học trò ưu tú, xuất sắc trong học hành hay tinh tấn trong tu tập và la rầy, nhắc nhở những vị còn lơ là trong việc tu học với lòng từ bi, bao dung. Điều đó thể hiện rõ trách vụ của bậc thầy và phù hợp với lời đức Thế tôn giảng dạy.

Chiều ngược lại, những đệ tử, những học trò cũng “ca ngợi” đức hạnh, trí tuệ và tính cách của Hoà thượng nhưng có lẽ hiếm khi họ biểu lộ một cách trực tiếp. Và nếu được “ca ngợi” trực tiếp, có lẽ Hoà thượng cũng khó lòng mà hãnh diện bản thân bởi Hoà thượng là bậc rất khiêm cung trong cuộc sống.

Do đó, theo lẽ thường, dịp để đệ tử, học trò ghi nhớ, cảm niệm chân thành về Hoà thượng lại là lúc Hoà thượng đã viên tịch bởi đây là lúc họ có thể bày tỏ tự nhiên nhất. Tất nhiên, những điều cảm niệm phải là những bài học cho các thế hệ sau về tấm gương của Hoà thượng. Tấm gương ấy sẽ đi theo những thế hệ đệ tử, học trò và còn tiếp nối cho các thế hệ sau nữa.

Sau khi “nghỉ hưu” để nhường lại cơ hội cho hàng Tăng Ni trẻ đảm nhiệm giảng dạy tại Trường TCPH Bình Định, Hoà thượng vẫn tiếp tục việc giảng dạy nơi bổn tự Bình An cho Tăng Ni cầu học, nhất là các dịp An cư. Bởi vì, Hoà thượng cũng luôn ưu tư, mong muốn truyền trao kiến thức, kinh nghiệm cho hàng học trò vì Hoà thượng luôn tin rằng dù học trò có bằng cấp nhưng vẫn còn thiếu kinh nghiệm và kiến thức thực nghiệm. Với hoài bão đó nên mỗi khi có dịp gặp hàng học trò Hoà thượng đều tận dụng thời gian giảng dạy mà không cần lớp học như thường lệ. Hoà thượng còn có nhiều ý nguyện khác như đến các đạo tràng An cư để giảng dạy chúng Tăng nhưng ước nguyện đáng quý ấy chưa được thực hiện nhiều vì bệnh tật. Dù ý nguyện chưa thành tựu nhiều nhưng nó cũng đã làm cho hàng hậu học chúng con cảm kích tinh thần giáo dục không mệt mỏi của Hoà thượng.

Giờ đây, Người đã nhẹ nhàng vân du theo sở nguyện độ sanh. Hàng hậu học chúng con ôn lại những kỷ niệm có được với Hoà thượng như là một sự ca ngợi công đức của Hoà thượng và cũng là nhắc nhở chính chúng con về trách vụ của người đệ tử Phật.

Xin đảnh lễ tri ân Hoà thượng!

 

Hậu học TK. Thị Ngộ

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
10/04/2013(Xem: 9863)
Ni trưởng huý thượng Thị hạ Mậu, tự Thông Huyền, thế danh Đào Thông Thoại, sinh ngày 17 tháng 11 năm Ất Sửu (1925). Tại thôn Xuân Quang, xã Cát Tường, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định. Sinh trưởng trong một gia đình trí thức Nho giáo nhiều đời thâm tín đạo Phật, thân phụ là cụ ông Đào Đãi, pháp danh Thị Thiện, tự Giản; thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Chư, pháp danh Thị Hiền. Hai cụ đều là Phật tử thuần thành, hết lòng tôn kính và hộ trì Phật pháp. Ni trưởng là con thứ 6 trong gia đình có mười anh chị em. Vốn sẵn có thiện duyên từ bao đời với Phật pháp, nên từ thời thơ ấu đã chuyên tâm học đạo và sớm quy y Tam Bảo với bổn sư huý thượng Như hạ Từ, pháp hiệu Tâm Đạt tại chùa Thiên Bình, thôn Trung Lý, xã Nhơn Phong , huyện An Nhơn , tỉnh Bình Định.
10/04/2013(Xem: 8820)
Sư Cô Thích Nữ Liên Thi, tên đời Hồ Thị Kim Cúc, sinh ngày 20 tháng 6 năm 1969 tại Cam Ranh, Khánh Hòa, xuất gia ngày 18 tháng 5 năm 1990 tại Tịnh Xá Vân Sơn thuộc Xã Lương Sơn, Tỉnh Khánh Hòa, Việt Nam. Sư Cô đến Hoa kỳ ngày 26 tháng 5 năm 2008, mất tích ngày 23 tháng 4 năm 2010 và Phật tử đã tìm ra thi thể của Sư Cô năm tháng sau khi mất tích, ở sân sau của Tịnh Xá Từ Quang thành phố Midway City, tiểu bang California vào ngày thứ năm 23 tháng 9 năm 2010, nơi mà Sư Cô đã sinh hoạt trong suốt thời gian từ ngày đến Hoa Kỳ cho đến ngày mất tích. Sư Cô hưởng dương 42 tuổi đời, 20 tuổi đạo.
10/04/2013(Xem: 13888)
GS Phạm Công Thiện: Ra đi An Lạc Trong Thiền Định; Lễ Cầu Siêu Tại Chùa Viên Thông, Bellflower, Vào Chủ Nhật, 13-3 Nhà Thơ, Giáo Sư Phạm Công Thiện tại Tòa Soạn Việt Báo. (Hình Việt Báo, chụp vào tháng 11 năm 2009.)
10/04/2013(Xem: 10387)
Thành Kính Tưởng Niệm Cố Ni Sư Thích Nữ Diệu Ý (1947-2011) Trụ Trì Chùa Kim Quang, Thủy Tú, Nha Trang
10/04/2013(Xem: 8881)
Đại lão Hòa thượng Thích Huyền Quang thế danh là Lê Đình Nhàn, sinh năm Canh Thân, ngày 19-9-1920 (tức ngày mồng 8 tháng 8 năm Canh Thân), quê thôn Háo Đức, xã Nhơn An, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. Thân phụ là cụ ông Lê Vỵ pháp danh Như Hương, thân mẫu là cụ bà Ngô Thị Tư pháp danh Như Tâm cùng ở làng Háo Đức.
10/04/2013(Xem: 8886)
Chuông điện thoại vang lên ,bổng dưng tôi có cảm giác không an khi hằng ngày vào giờ này ít khi có ai gọi .Từ bên kia đầu dây ,Đạo Hữu Tánh Thuần thông báo một tin buồn ; NI TRƯỞNG THÍCH NỮ BẢO NGUYỆT KHÔNG CÒN NỮA ! Người đã thuận thế vô thường vào lúc bốn giờ sáng nay !
10/04/2013(Xem: 9981)
Hòa Thượng thế danh là Nguyễn Văn Kim, Pháp danh Như Kim, Pháp hiệu Bửu Chung, sinh năm Tân Tỵ (1881) Niên hiệu Tự Đức năm thứ 35, tại Rạch Cái Đầm, xã Hiệp Xương, huyện Tân Châu, tỉnh Long Xuyên (nay là An Giang). Thân phụ là cụ ông Chánh bái Nguyễn Văn Phước. Thân mẫu là cụ bà Lê Thị Dậu đều kính tin phụng thờ Tam Bảo.
10/04/2013(Xem: 9752)
Hòa thượng thuộc dòng Thiền Lâm Tế đời thứ 39, pháp danh Ngộ Đạo hiệu Từ Vân. Thế danh Đinh Công Thân, sinh năm Bính Dần (1866) Niên hiệu Tự Đức năm thứ 20, tại làng Định Yên, Lấp Vò, (nay là Đồng Tháp). Thân phụ là Cụ ông Đinh Công Thành và thân mẫu là cụ bà Lê Thị Hoài. Gia đình 7 anh em, Ngài thứ tư. Sinh trong gia đình trung lưu phúc hậu, theo truyền thống đạo Phật.
10/04/2013(Xem: 11996)
Căn cứ theo tài liệu nghiên cứu của Thiền sư Mật Thể trong cuốn Việt Nam Phật Giáo Sử Lược, thì dưới triều chúa Nguyễn ở đàng Trong, phong trào phát triển Phật giáo nói chung và Thiền phái Lâm Tế nói riêng bành trướng rất mạnh mẽ ; đồng thời, đã lưu lại cho nền văn học Phật giáo nhiều kiến trúc mỹ thuật, hội họa rất nổi tiếng. Tuy nhiên, khi nhà Tây Sơn thống nhất đất nước, kéo quân từ Nam ra diệt Nguyễn thì đoàn quân lính nầy đã hủy diệt đi những công trình quý báu đó. Bi ký, chứng liệu bị thất tung.
10/04/2013(Xem: 9498)
Hôm nay dưới bóng mát thiền lâm Thiên Thai pháp phái, trước giây phút thiêng liêng tỏa ngát hương đàm, chúng con đang qui tụ về đây, nơi vùng đất Thánh, nơi đã ghi đậm nét lịch sử một đời người xuất thị nhập sơn, tầm rong độ nhật, nơi Ngài đã thể hiện công án thoại đàu, luôn luôn quấn quýt đeo đẳng tâm tư với những tháng năm dài chẻ chia suy cứu- Thiền pháp trầm tịch nhưng hưng suy, trừng thanh nhưng hoạt diễm ấy đến nay vẫn còn phong khí nức hương