Kỷ Niệm Bên Thầy

10/04/202017:42(Xem: 5384)
Kỷ Niệm Bên Thầy

ht thich dong chon-27

Kỷ Niệm Bên Thầy


Thấm thoát mà thời gian đã trôi qua nhanh, mới đây thôi mà gần 49 ngày Thầy rời xa chúng coṇ. Cảm xúc nghẹn  ngào vẫn còn trong tim con, khó mà diễn tả được nỗi đau buồn này, nó cứ da diết mãi. Có lẽ con chưa chấp nhận sự thật là Thầy đã đi rồi. Con vẫn biết lời Thầy dặn dò lúc con mới xuất gia “Mọi sự mọi việc trên đời này luôn thay đổi, các pháp là vô thường. Cái chết là cái chắc chắn”. Các con hãy nỗ lực tiến tu để cảm thấy không bị vướng bận hay rằng buộc bất kỳ điều gì, dù đó là vui, buồn, hạnh phúc hay khổ đau. Rồi một ngày sự nỗ lực đó sẽ giúp con có được sự an nhiên, tự tại giữa Ta bà uế trược này. Con còn nhớ ngày chập chững bước chân vào chốn thiền môn, là khoảnh khắc đầu tiên con được nhìn và tiếp xúc với Thầy, với dáng hình giản dị của một Sơn Tăng mà trước giờ con cứ tưởng chỉ thấy trong các bộ phim, hay là huyền thoại cổ tícḥ. Một bậc Thầy đơn sơ, mộc mạc, ẩn chứa nội lực tu tập của vị Long Tượng chốn không môṇ. Từ cái nhìn ấy cho đến nay, con vẫn không thể nào quên được Thầy, biết bao nhiêu kỉ niệm, bao kí ức cứ dồi dạt ùa về khi đặt bút viết đôi dòng niệm ân Thầy.

Nhớ lại thuở xưa, khi còn là thị giả bên Thầy, có những lúc con hồn nhiên vô tư quên đi những lời căn dặn, để rồi bị Thầy la trách và bắt phạṭ. Khi ấy, trong tâm con cảm thấy buồn và tự nghĩ sao Thầy không thương mình, rất nhiều suy nghĩ hiện lên trong con, bởi lúc đó con còn quá trẻ, suy nghĩ có lúc nông cạn và không hiểu biết hết sự yêu thương của Thầy. Hằng ngày, Thầy luôn dạy huynh đệ chúng con nhiều điều, từ cách đi, đứng, nằm, ngồi, cách ứng xử và kể cả cách học kinh luật để hành trì… Bao nhiêu điều tốt Thầy truyền dạy cho chúng con, Thầy biết rằng: “Thân sanh là giả tạm, rồi một ngày Thầy phải rời xa chúng con, sợ chúng con chưa đủ hành trang để tiến tu và cả bước nhập thế cứu đời”. Vì thế, Thầy dày công, Thầy cố gắng dạy rất nhiều, dạy chi tiết từ thân giáo và khẩu giáo. Cho đến bây giờ, lời dạy ấy vẫn in sâu và trong tâm thức con. Thầy nói: “Tụi con còn nhỏ, cần phải học thật nhiều, đừng chạy theo thú vui bên ngoài để rồi đánh mất lý tưởng xuất gia. Người xuất gia cần phải nỗ lực học Phật và hành trì giáo Pháp chân chính, để tăng trưởng đạo tâm vững mạnh, sau này với ý chí kiên cường, với nội tâm có tu tập, các con sẽ tự tin đứng vững trong xã hội đầy cám dỗ, sẽ vượt qua nhiều thử thách chông gai trong sự nghiệp hoằng truyền giáo Pháp, sẽ là người kế thừa Như Lai hay kế thừa sự nghiệp tiếp dẫn hậu lai báo Phật ân đức, của Thầy Tổ, các con nhớ rõ chứ”. Từ bài học đó, con luôn tâm niệm rằng đó sẽ mãi là kim chỉ nam cho con trên bước đường tu học từ đây cho đến mãi về sau.

Những lời Thầy dạy tuy đơn sơ, nhưng hàm chứa một triết lý của đạo Phật, giúp con có thêm nguồn năng lượng để cố gắng vượt thoát sự cám dỗ và đi đúng với con đường giải thoát mà chư Tổ đã đi qua. Kể từ ngày hôm ấy, Thầy giống như là ánh sáng trong con, luôn soi đường chỉ lối cho con, trong những lúc con bất chợt yếu mềm, thoái chí, cũng chính là Thầy đã luôn hiện hữu trong con dẫn con vượt qua trăm cuộc gian truân cuộc đời. Con nghĩ rằng: “Con là sự tiếp nối của Thầy, Thầy luôn hiện hữu trong con dẫu thân ngũ uẩn của Thầy đã không còn, nhưng chính lời dạy của Thầy vẫn luôn hằng sâu trong con mãi mãi”. Khi con rời xa Thầy để đi học Phật, mong muốn tương lai sẽ tiếp bước chân Thầy, nhưng nào đâu lại nghe tin Thầy bệnh phải nhập viện, tâm lý lúc đó con hoang man và lo lắng. Ấy vậy mà, chưa kịp về bên cạnh chăm sóc Thầy mà Thầy đã vội rời xa. Tin này càng làm con thêm chùng bước về con đường phía trước, nỗi buồn cứ luôn dày xé trái tim coṇ. Cái ngày cuối đời của Thầy mà con cũng không về bên cạnh Thầy được bởi vì thế giới đang gồng mình chống chọi với đại dịch Covid-19 và phong tỏa các chuyến bay nên con không có cơ hội bên Thầy lần sau cuối. Từ phương xa chỉ biết hướng tâm về Thầy, cầu nguyện cho Thầy an nhiên mà dời gót. Con biết chắc rằng với đạo tâm tu tập cả một đời của Thầy, Người sẽ an nhiên xả bỏ báo thân này, dự hàng Thánh chúng cõi Liên Hoa, tùy duyên hạnh nguyện hóa độ. Mong rằng Thầy thương tưởng chúng sanh còn chìm đắm trong u tối, phát hạnh nguyện hội nhập Ta bà để giúp chúng sanh thoát khổ ải sanh tử, đến bờ giải thoát an vui.

        Con hiểu rất rõ ngôn ngữ chỉ là thứ tạm bợ, làm sao mà diễn tả hết công ơn lớn lao của Thầy. Nhưng vì lòng thương nhớ bậc ân sư, xin phép cho con dùng chút ít ngôn ngữ để bày tỏ về bậc Thầy khả kính của chúng con. Kỉ niệm của con về Thầy rất nhiều, nhưng làm sao kể hết được Thầy ơi! Hai tiếng Thầy ơi! Mà tâm con trẻ như chết lặng giữa đêm khuya nơi xứ lạ quê người. Hai tiếng Thầy ơi! Chưa kịp nói lên mà Thầy đã vội ra đi, sẽ không còn cơ hội để bày tỏ, nhưng con sẽ giữ mãi những kỉ niệm đó cho riêng con về một người Thầy mà con hết mực tôn kínḥ. Đôi dòng kỉ niệm bên cạnh Thầy giờ sẽ gửi nó theo muôn ngàn gió mây mong rằng nó sẽ mang theo sự hồi ức của con về Thầy đến một nơi yên bình và hạnh phúc nhấṭ. Đây là kỉ niệm khó quên và chắc sẽ không bao giờ con quên được lời dạy của Thầy năm nào, từ thuở sơ cơ xuất gia của con.

 -Yangon, Kỉ niệm bên Thầy!-
0h00’, 8/4/2020 (16/3 Canh Tý)
Hiếu tử Thích Vạn Hy
Đầu thành khấp lễ

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
18/09/2013(Xem: 18558)
Mùa xuân đã bắt đầu, cảnh sắc xuân tươi nhuận chan hòa trải khắp toàn liên bang Úc châu; và đặc biệt là tiểu bang New South Wales, thành phố Sydney. Như thông báo đã loan tải trước, vào lúc 10.30am ngày chủ nhật, 15-9-2013, Giáo Hội PGVNTNHN tại Úc Ðại Lợi-Tân Tây Lan đã long trọng tổ chức Lễ Tưởng Niệm Hòa Thượng Thích Minh Tâm viên tịch tại Paris, Pháp Quốc năm tuần lễ trước.
17/09/2013(Xem: 31820)
Trong khuôn khổ của chương trình Giáo dục thường xuyên thuộc ngành y (Continuing Medical Education) của Viện đại học Harvard. Được tổ chức bởi Trường đại học Y khoa Harvard (Harvard Medical School) mà đứng đầu là các Giáo sư danh tiếng như: Christopher Germer, Judy Reiner Platt và Ronald D. Siegel vào các ngày 11 và 12 tháng Chín 2013 tại thính đường lớn của Boston Park Plaza Hotel, với một ban Giảng huấn hùng hậu gồm 14 vị Giáo sư đứng đầu là Thiền sư Thích Nhất Hạnh, sau đó mới tới các vị Giáo sư danh giá như: Lilian Cheung, Alice Domar, Elissa Ely, Christopher Germer, Devon E. Hinton, Judith V. Jordan, Jon Kabat-Zinn, David Leisner, Judy Reiner Platt, Susan M. Pollak, Ronal Siegal, David A. Sieberweig và Barent Walsh.
14/09/2013(Xem: 26935)
Hòa thượng Thích Đạt Đạo, thế danh Huỳnh Văn Hà, sinh năm Tân Mão (1951) tại xã Hạnh Thông, Quận Gò Vấp, tỉnh Gia Định, nay là Thành phố Hồ Chí Minh. Thân phụ là Cụ Ông Huỳnh Văn Chánh. Thân mẫu là Cụ Bà Lê Thị Kia, pháp danh Diệu Ca. II. Thời kỳ xuất gia học Đạo Vốn sinh ra trong một gia đình Phật tử thuần thành, nhiều đời tin kính Tam bảo, từ nhỏ Hòa thượng đã có thiện duyên với Phật pháp, được Cụ Ông, Cụ Bà thường xuyên dẫn đi chùa chiêm bái và lễ Phật. Năm 11 tuổi, Hòa thượng quy y năm giới với Hòa thượng Bổn sư thượng Đức hạ Chơn, pháp danh là Quảng Trí và sinh hoạt Gia đình Phật tử Quảng Hương. Với tâm nguyện muốn xuất gia học đạo, năm 13 tuổi (1964), Hòa thượng được Hòa thượng Bổn sư cho phép thế phát xuất gia và hành điệu tại chùa Long Huê, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh. Sau đó, Hòa thượng vào tu học ở Tu viện Quảng Hương Già Lam, từ năm 1966 - 1968.
12/09/2013(Xem: 13244)
Tôi mới nhận được một tin đáng lưu tâm. Đó là Ông Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Ban Ki Moon(Phan Cơ Văn) là người gốc Việt Nam có dòng dõi với Phan Huy Chú. Trước đây tôi có đọc bộ sách lịch sử về VN của Bác Sĩ Trân Đại Sĩ ở Pháp viết về dòng dõi của Hoàng Tử Lý Long Tường vào giữa thế kỷ thứ 13 tại Bắc Hàn (rất hay), sau đó được biết Ông Lý Thừa Vãng Tổng Thống Nam Hàn cũng có nguồn gốc từ nhà Lý của VN và Tổng Thống Đài Laon Lý Kính Huy cũng dòng dõi nhà Lý nầy. Nay được biết thêm Ông Ban Ki Moon của Nam Hàn cũng gốc gác từ VN. Như vậy cũng là một niềm vui, nhưng xin kiểm điểm lại việc nầy. Ở Đức, tôi có thể liên lạc với Dr. Phan Huy Oánh là người nhà với Ông Phan Huy Qúat để dò hỏi thêm việc nầy. Đây là những chứng nhân của lịch sử cần nên quan tâm.
07/09/2013(Xem: 24540)
¨ THƯ TÒA SOẠN, trang 2 ¨ TIN TỨC PHẬT GIÁO THẾ GIỚI (Diệu Âm lược dịch), trang 3 ¨ CÁO BẠCH TANG LỄ HT. THÍCH MINH TÂM (GHPGVNTN Âu Châu), trang 7 ¨ ĐÔI LỜI CẢM NIỆM VỀ SỰ VIÊN TỊCH CỦA HT THÍCH MINH TÂM (thơ điếu của HT Thích Thắng Hoan), trang 8 ¨ TƯỞNG NIỆM HT. THÍCH MINH TÂM (thơ HT. Thích Nguyên An), trang 8 ¨ XƯNG TÁN CÔNG HẠNH CỦA CỐ TRƯỞNG LÃO HT. THÍCH MINH TÂM (HT. Thích Tín Nghĩa), trang 9 ¨ ĐIỆN THƯ PHÂN ƯU (GHPGVNTN Hoa Kỳ), trang 10 ¨ SƠ LƯỢC TIỂU SỬ HT. THÍCH MINH TÂM (GHPGVNTN Âu Châu và Môn đồ pháp quyến phụng soạn), trang 11 ¨ CẢM NIỆM ÂN SƯ (ai văn của Môn đồ pháp quyến HT. Thích Minh Tâm), trang 12
07/09/2013(Xem: 5931)
Vừa ở khóa Tu học về được 2 ngày, còn mang theo niềm vui, với những gương mặt thân yêu của Quí Thầy, hơi ấm của tình bạn đang vây quanh con; không ngờ chị bạn cùng khóa Tu học gọi điện thoại cho biết Thầy vừa viên tịch tại Phần Lan. Một hung tin như trong mộng làm con quá đỗi bàng hoàng! Làm sao con có thể tin được vì con vừa tham dự khóa Tu học Phật Pháp Âu Châu lần thứ 25 ở Turku- Finland về. Mới đó mà! Thầy mới khai thị cho khóa học, cấp lớp chúng con đã được Thầy giảng dạy một buổi và hằng ngày Thầy đã đến đạo tràng thọ trai cùng Tăng Chúng; động viên cho hàng Phật tử đang hiện diện. Thầy đã vui với thành quả số Phật tử tham dự: 837 người, ngoài sự dự đoán của ban tổ chức vì đường sá xa xôi và tốn kém. Vậy mà tinh thần học Phật vẫn dâng cao!
29/08/2013(Xem: 11607)
THẦY GIÁO LÀNG TÔI (Kính tặng TT.Thích Liễu Pháp, trụ trì chùa Thiên Xá, Đồng Đế, Nha Trang) TỊNH MINH
27/08/2013(Xem: 18791)
Thiền tông truyền sang Trung Hoa vào thế kỷ thứ VI, do Tổ Bồ-đề-đạt-ma (Bodhidharma). Đến thế kỷ thứ VII, Thiền tông truyền sang Việt Nam, do Tổ Tỳ-ni-đa-lưu-chi (Vinitaruci). Thế là, Thiền tông có mặt ở Việt Nam sau Trung Hoa một thế kỷ. Đến thế kỷ thứ XII, Thiền tông mới truyền vào Nhật Bản. So Việt Nam với Nhật Bản, Thiền tông truyền bá ở Việt Nam trước Nhật Bản đến năm thế kỷ. Song ở Trung Hoa, Nhật Bản về sử liệu Thiền tông rất dồi dào, còn ở Việt Nam thật là nghèo nàn đáo để. Sự nghèo nàn ấy, không phải Thiền tông Việt Nam truyền bá kém cỏi hơn các nước Phật giáo bạn. Bởi vì nhìn theo dòng lịch sử, từ thế kỷ thứ VII cho đến thế kỷ thứ XIV, chúng ta thấy Thiền tông đã nắm trọn vẹn tinh thần truyền bá Phật giáo và cả văn hóa dân tộc Việt Nam. Những sách vở của người Việt Nam sáng tác hoặc ghi chép lại, không kém gì các nước Phật giáo bạn. Nào là Đại Nam Thiền Uyển Truyền Đăng Lục, Liệt Tổ Truyện, Nam Minh Thiền Lục, Thánh Đăng Thực Lục, Liệt Tổ Yếu Ngữ, Kế Đăng Lục, Tam Tổ T