Điện Thư Phân Ưu của Văn Phòng Điều Hợp Liên Châu

25/02/202006:15(Xem: 9051)
Điện Thư Phân Ưu của Văn Phòng Điều Hợp Liên Châu


letter head_Van Phong Dieu Hop Lien Chau-2018-2020
Số 03-2018-2020/VPĐHLC/ĐTPU                                       Phật lịch 2563, Sydney 24/2/2020



ĐIỆN THƯ PHÂN ƯU

Kính gởi : HT Thích Tuệ Sỹ, Trưởng Ban Tổ Chức Tang Lễ

                  Đức Đại lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ, cùng Môn Đồ Pháp Quyến

 


Nam Mô Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật

Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Liên Châu vô cùng xúc động khi nhận tin Đức Đại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ, nguyên Tổng Thư Ký Viện Hóa Đạo, nguyên Viện Trưởng Viện Hoá Đạo, vừa thâu thần viên tịch tại phương trượng Chùa Từ Hiếu, Sài Gòn lúc 21 giờ 20 phút ngày 22/2/2020, nhằm ngày 29 tháng giêng năm Canh Tý, trụ thế 93 tuổi và 73 hạ lạp.

Đức Đại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ là một bậc Cao Tăng Thạc Đức của Phật Giáo Việt Nam, đã cống hiến trọn đời cho Đạo pháp và Dân tộc. Ngài là nhà lãnh đạo dũng mãnh không chùn bước trước thế quyền, dõng dạc đòi quyền tự do sinh hoạt của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất từ sau năm 1975 tới nay. Với tinh thần bất khuất ấy, nên đã bị chính quyền Cộng Sản Việt Nam lưu đày về nơi sinh quán Thái Bình của Ngài trong điều kiện đơn độc và thiếu an ninh, nhưng tâm dũng mãnh, chí đại hùng của bậc xuất trần thượng sĩ, Ngài như đơn thân đối kháng với những thế lực vô minh cho tới giờ phút cuối cùng.

Ngài cũng là một giảng sư, một nhà Phật học và một dịch giả nổi tiếng trong Phật Giáo. Những tác phẩm của Ngài để lại cho đời như:  Kinh Mục Liên Sám Pháp, Kinh Đại Phương tiện Phật Báo Ân, Thoát vòng tục lụy (truyện dịch từ Hán văn của Đại Sư Tinh Vân - Sài Gòn xb 1962), Dưới mái chùa hoang, Truyện cổ Phật giáo (Sài Gòn xb 1964); Đại thừa Phật giáo tư tưởng luận, Tiểu thừa Phật giáo tư tưởng luận, Nguyên thủy Phật giáo tư tưởng luận, Từ điển Phật học Hán Việt (2 tập), Phật Quang Đại Từ điển (9 tập), Chiến tranh và bất bạo động, Thơ trong tù (1977-1978) ; Thơ lưu đày (1982-1992) v.v...

Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Liên Châu chúng tôi, thành kính phân ưu cùng Môn đồ pháp quyến và hiệp thập cung tiễn Giác Linh Đại Lão Hòa Thượng Cao Đăng Phật Quốc, chứng quả vô sanh, nhập huyền môn hoa tạng giới và sớm hồi nhập Ta Bà, để tiếp tục công cuộc hóa độ chúng sanh.

Để tưởng nhớ và truy tán công đức Đại Lão Hòa Thượng tân viên tịch, 4 Giáo Hội chúng tôi cũng tổ chức Lễ Tưởng Niệm Đức Đại Lão Hòa Thượng tại từng Trụ Sở của Giáo Hội. Riêng Giáo Hội Úc Châu sẽ tổ chức tại Chùa Pháp Bảo, Sydney vào lúc 2 giờ chiều Thứ Bảy ngày 29/02/2020.  Và các cơ sở tự viện thành viên của toàn Giáo Hội tùy nghi trang nghiêm tổ chức tại từng trụ xứ. 

 

Nhất Tâm đảnh lễ tân viên tịch, Ma Ha Tỷ Kheo Bồ Tát Giới húy thượng Quảng hạ Độ, Đại Lão Hòa Thượng Giác Linh thùy từ chứng giám.

Phật lịch 2563, ngày 24 tháng 2 năm 2020

 

Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất

(Văn Phòng Điều Hợp Liên Châu)

 

 

Chánh văn phòng

Hòa Thượng Thích Bảo Lạc

Hội Chủ Hội Đồng Điều Hành 

Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất  Hải Ngoại tại Úc Đại Lợi-Tân Tây Lan

 

 

 

Hòa Thượng Thích Tín Nghĩa

Chủ tịch Hội Đồng Điều Hành Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất  Hoa Kỳ

 

  

Hòa Thượng Thích Tánh Thiệt & Hòa Thượng Thích Như Điển

Đệ I và Đệ II Chủ Tịch Hội Đồng Điều Hành Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất tại Âu Châu

 

  

Hòa Thượng Thích Bổn Đạt

Chủ tịch Hội Đồng Điều Hành Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất tại Canada









Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
02/12/2010(Xem: 10868)
Hòa thượng Thích Quảng Thiệp (1928-1998)
25/11/2010(Xem: 37796)
Trần Thái Tông là vị vua đầu của triều Trần. Ngài là đệ tử của thiền sư Viên Chứng trên núi Yên Tử. Ngài vừa làm vua vừa thực tập thiền. Ngài cũng từng thực tập thiền công án. Đây là 43 công án Vua đưa ra để cùng thực tập với tăng thân của Vua, gồm có giới xuất gia và tại gia. Thầy Làng Mai đã dịch những công án này ra tiếng Việt và tiếng Pháp năm 1968. Bản dịch tiếng Pháp xin xem ở phần phụ lục cuốn Clé Pour Le Zen, tác giả Nhất Hạnh, do nhà xuất bản JC Lattes ấn hành. Bản Hán Việt có trong Thơ Văn Lý Trần quyển II (Quyển thượng, trang 108-121), NXB Khoa Học Xã Hội.
24/11/2010(Xem: 15258)
Tiểu sử nhà văn Quách Tấn
15/11/2010(Xem: 10684)
Vào ngày 1-11-1963 khi quân đội đứng lên làm cuộc đảo chánh lật đổ chế độ của gia đình Ô. Ngô Đình Diệm - mà Hội Đồng Quân Dân Cách Mạng do Đại Tướng Dương Văn Minh cầm đầu gọi đó là cuộc “Cách Mạng” thì tôi là cậu sinh viên Luật Khoa Năm Thứ Nhất, chuẩn bị thi lên Năm Thứ Hai của Đại Học Luật Khoa Sài Gòn. Bố tôi sính đọc sách báo, vả lại gia đình cư ngụ ở xóm lao động cho nên Radio hàng xóm mở ầm ầm cả ngày khiến dù không muốn nghe nhưng cũng phải nghe tin tức từng giờ của đài phát thanh. Hơn thế nữa khi Sài Gòn nổ ra cuộc đấu tranh của Phật Giáo thì hầu như các đại học, trung học đều đóng của hoặc tự động bãi khóa.
10/11/2010(Xem: 11396)
Hoà Thượng thế danh Diệp Quang Tiền, pháp danh Tâm Khai, tự Thiện Giác, hiệu Trí Ấn Nhật Liên. Ngài sanh ngày 13 tháng 10 năm Quý Hợi (1923) tại thôn Xuân Yên, xã Triệu Thượng, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, trong một gia đình thâm tín Phật Giáo. Thân phụ là cụ Diệp Chí Hoan; thân mẫu là cụ bà Phan Thị Đường. Hai cụ sinh hạ được 5 người con : 4 nam, 1 nữ - Ngài là con thứ trong gia đình, sau anh trưởng là Thầy Diệp Tôn (Thích Thiện Liên). Năm lên 6 tuổi (1928) gia đình Ngài dời về thôn Diên Sanh, xã Hải Thọ, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Thân sinh Ngài đã rước thầy Đồ Nho danh tiếng về nhà để dạy chữ Hán cho hai con. Hai anh em Ngài thường được cụ Đồ khen là thông minh, hứa hẹn một tương lai tốt đẹp. Năm lên 10 tuổi (1932), Ngài theo học Việt Văn tại thôn Diên Sanh.
02/11/2010(Xem: 10766)
Thành kính khẩn bạch đến chư Tôn Đức Tăng Già của quý Giáo Hội, quý Tự Viện, quý tổ chức Phật Giáo cùng toàn thể chư vị thiện nam tín nữ Phật tử: Đại Lão Hòa Thượng thượng Huyền, hạ Ấn, thế danh Hoàng Không Uẩn, sinh năm 1928 tại Quảng Bình, Việt Nam
01/11/2010(Xem: 17124)
Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 1, Chùa Pháp Hoa (2000) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 2, Chùa Pháp Bảo (2001) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 3, Chùa Linh Sơn (2002) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 4, Tu Viện Vạn Hạnh (2003) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 5, Tu Viện Quảng Đức (2004) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 6, Chùa Phổ Quang (2005) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 7, Chùa Pháp Bảo (2006) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 8, Chùa Pháp Hoa (2007) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 9, Chùa Linh Sơn (2008) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 10, Chùa Pháp Bảo (2009) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 11, Thiền Viện Minh Quang (2010) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 12, Tu Viện Quảng Đức (2011) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 13, Tu Viện Vạn Hạnh (2012) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 14, Thiền Viện Minh Quang (2013) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 15, Tu Viện Quảng Đức (2014) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 16, Chùa Pháp Pháp Bảo (2015) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 17, Tu Viện Quảng Đức (2016) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 18, Chùa Pháp Hoa (2017) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 19, Chùa Pháp Hoa (2018)
01/11/2010(Xem: 48829)
Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 1, Chùa Pháp Hoa (2000) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 2, Chùa Pháp Bảo (2001) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 3, Chùa Linh Sơn (2002) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 4, Tu Viện Vạn Hạnh (2003) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 5, Tu Viện Quảng Đức (2004) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 6, Chùa Phổ Quang (2005) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 7, Chùa Pháp Bảo (2006) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 8, Chùa Pháp Hoa (2007) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 9, Chùa Linh Sơn (2008) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 10, Chùa Pháp Bảo (2009) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 11, Thiền Viện Minh Quang (2010) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 12, Tu Viện Quảng Đức (2011) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 13, Tu Viện Vạn Hạnh (2012) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 14, Thiền Viện Minh Quang (2013) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 15, Tu Viện Quảng Đức (2014) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 16, Chùa Pháp Pháp Bảo (2015) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 17, Tu Viện Quảng Đức (2016) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 18, Chùa Pháp Hoa (2017) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 19, Chùa Pháp Hoa (2018)
29/10/2010(Xem: 10136)
Kể từ khi vết tích của chùa Thiên Mụ được ghi lại đơn sơ trong sách Ô Châu Cận Lục vào năm 1553 (1), chùa đã tồn tại gần 450 năm cho đến ngày nay. Trải qua bao nhiêu cuộc bể dâu, chùa vẫn giữ được địa vị và vẫn đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống đạo và đời của dân Huế, nói riêng, và của dân cả nước, nói chung. Qua đầu thế kỷ 17, chùa đã thực sự đi vào lịch sử sau khi Nguyễn Hoàng vào xứ đàng trong để gây dựng cơ nghiệp đế vương với huyền thoại “bà tiên mặc áo đỏ” (9).