Thiện Niệm Về Sư Phụ

14/02/202003:15(Xem: 5788)
Thiện Niệm Về Sư Phụ


Ht Giac Chanh-1947-2020

THIỆN NIỆM VỀ SƯ PHỤ


Mọi người thường dành cho người từ trần những điều tốt đẹp nhất như có thể. Nơi phương xa, con dành những giây phút an tịnh trong thiền để kính dâng Sư Phụ.

Chỉ đến một sớm mai nhận tin “Hoà thượng Giác Chánh đêm rồi viên tịch”, lần đầu tiên con ứng lên 2 tiếng gọi Ngài là “Sư Phụ”, biết đâu tạo ra kỳ tích Ngài bất ngờ nghe âm thanh lạ mà bật thân ngồi dậy cười nói với mọi người.

Bao chục năm qua là thầy trò trong Pháp, một thời gian dài từng làm thị giả thân cận, con vẫn quen gọi Ngài là Sư Trưởng, bây giờ gọi 2 tiếng Sư Phụ mới cảm nhận hết tính trọng đại, hơn nữa, thiêng liêng của mối quan hệ thầy trò đồng môn tiến tu Phật đạo.

Thuở con mới trốn cha mẹ đi tu, Thầy tiếp dẫn là cố Hoà thượng Giác Tâm đã dẫn con vào chùa Thiền Quang I bái kiến Hoà thượng Thiện Pháp, sau đó đến giới thiệu với “Đại Sư huynh Giác Chánh” tại lễ tang bà Đại Tín, huyện Long Thành. Không ngờ từ cuộc hội ngộ đó, con có duyên làm đệ tử Sư Phụ.

Có lần con rời khỏi chùa Siêu Lý, Vĩnh Long vì muốn đi vượt biên. Chuyến đi không thành nên âm thầm đến ẩn dật tu thiền ở chùa Bồ Đề, Núi Lớn, Vũng Tàu với cố Hoà thượng Giác Tâm. Thời đó không có cellphone, việc thông tin liên lạc rất khó khăn. Sư Giác Nguyên chắc chưa quên nguồn cơn cảm tác bài thơ thất ngôn tứ tuyệt “Bạn Ở Đâu”:

“Trí Quảng bây giờ ở nơi đâu,
Biển cả, núi đồi, hay rừng sâu,
Chí lớn có còn hay đã mất,
Bè bạn còn đây có nhớ nhau?”

Lâu ngày không biết tin tức đệ tử, Sư Phụ nhờ cô Bảy Vĩnh Phúc và cô Mai: “Quý cô thử giúp dò la, tìm kiếm xem ông Trí Quảng ở chỗ nào, đưa về chùa Bửu Đức ở với Sư”. Nghe tường thuật như vậy, con nhận ra một điều: dù bận rộn nhiều Phật sự, lòng Sư Phụ không thiếu vắng tình thương đệ tử và trách nhiệm của một ông Thầy.

Theo lời Cố Hoà thượng Giác Tâm khuyên, con đã thu xếp về chùa Bửu Đức phụ anh Đắc làm thị giả chăm sóc sức khoẻ Sư Phụ, nên biết Ngài thường đau nhức cơ thể. Đôi lúc phải nhẹ đi trên lưng cho Ngài giãn gân cốt giảm đau nhức. Ngược lại, Sư Phụ giúp con giải nghi đạo lý, được nghe giảng dạy thêm về một số nội dung trong Tạng Vi Diệu Pháp, chỉ điểm cách dùng hiện lượng trí và tỷ lượng trí theo Nhân Minh học để nhận thức chỗ đúng sai trong phương pháp biện luận Lập và Phá nhằm tự ngộ và ngộ tha.

Ngôi chùa Bửu Đức dần dà thêm đông vui vì có Sư Chánh Nghiệp, Sư Trí Tịnh, Sư Giác Nguyên, Sư Chánh Minh lần lượt đến nhập hạ và thay nhau dạy giáo lý cho Phật tử địa phương. Sư Trí Tịnh và con từng chia sẻ một kỷ niệm khó quên, đó là những ngày theo Sư Phụ lên sân thượng chùa Bửu Đức, được nghe dạy cách thuyết giảng nhập đề lung khởi, hoặc trực khởi, và khắc phục khuyết điểm khi thuyết giảng trước công chúng.

Tánh tình con trầm lặng, không phải mẫu người hoạt ngôn, tuy nhiên, những kiến thức, kinh nghiệm Sư Phụ truyền trao, hướng dẫn vẫn là hành trang quý báu trên bước đường hoằng pháp lợi sanh.

Thời gian sau, Sư Giác Nguyên và con vào Sài Gòn học lớp Báo Chí. Sư Phụ tỏ vẻ mừng thấy báo Giác Ngộ đưa tin trong số thí sinh thi đậu vào trường Cao Cấp Phật Học Vạn Hạnh khoá III có tên con bên cạnh một loạt các vị Tăng trẻ như Sư Bửu Hiền, Sư Giác Nguyên, Sư Thiện Minh, Sư Chánh Định, Sư Tuệ Quyền, Sư Tường Quang, Sư Huệ Đức, Sư Chánh Kiến, Sư Tuệ Dũng, Sư Quách Thành Satha...Sư Phụ căn dặn:

“Cố gắng học xong rồi về đây, sau này tôi giao chùa Bửu Đức cho ông lo”.

Sư Phụ có nhiều Sư cháu và đệ tử khác để chọn nhân vật kế thừa xứng đáng, con chưa bao giờ mong đợi thừa tự chùa chiền từ Sư Phụ. Bất ngờ nghe nói vậy, con nhận thêm tình thương và hy vọng của một bậc thầy, nhưng chỉ cười xuề xoà qua chuyện. Con không muốn Sư Phụ đặt kỳ vọng nơi một đệ tử để rồi thất vọng, bởi lòng vấn vương hoài bão du phương nhẹ nhàng như mây gió trong khung trời tự do.

Và con thật sự càng lúc càng rời xa Sư Phụ. Đến Ấn Độ du học, lại tìm đường du phương sang kinh đô Tự Do Hoa Kỳ. Thoắt chốc đã gần 25 năm con rời xa sự bảo bọc của Sư Phụ. Đêm hôm qua, Ni Sư Phước Hội gọi phone, kể rằng:

“Con nghe Sư Trưởng viên tịch. Thương Sư Trưởng quá. Con hồi hướng phước tu tập cho Sư Trưởng. Dạo ở Việt Nam, con và cô bảy Vĩnh Phúc lên chùa Bửu Đức thăm. Sư Trưởng dẫn tụi con ra mảnh đất gần bờ sông, Sư Trưởng khoe vừa tậu được mảnh đất này, để xây trường lớp cho Sư Trí Quảng về dạy học...”

Tấm lòng Sư Phụ nghĩ về đệ tử, mà đệ tử biền biệt phương xa. Bất giác, con liên tưởng đến một câu chuyện quá khứ. Có lần, con thưa:

“Sống gần Sư Trưởng, con cảm nhận có gì thâm tình như máu mủ, ruột thịt”.

Sư phụ cười bảo:

“Sư và ông có thâm tình giống máu, nhưng không giống mủ”.

Câu pha trò dí dỏm đủ sắc bén khiến con tự phản tỉnh hiểu rằng tình cảm thân sơ do duyên mà tụ tán, trong khi đường sinh tử mỗi người đều tự lo. Thâm tình như thế nào thì sau cùng mỗi người vẫn phải tự bước trên đường, không ai bước giùm ai. Là một bậc hiền tăng uyên thâm Phật Pháp, mong Sư Phụ an trú trong thiện pháp, không thất vọng về con, vì con chưa hứa hẹn điều gì.

Đêm hôm qua xem Lễ Trà Ty tường thuật trực tiếp, con cứ gọi thầm 2 tiếng “Sư Phụ”. Kỳ tích đã không xảy ra, Sư Phụ không thể bật thân ngồi dậy cười nói với mọi người..

Hỡi ôi! Làm sao Ngài ngồi dậy được, khi tâm thức đã lìa bỏ hình hài! Thôi đành thuận lẽ vô thường nhìn hình hài tiêu tán sau lễ Trà Tỳ. Nhưng chắc hẳn Sư Phụ còn sống lâu trong tâm trí Pháp lữ, môn đồ hiếu quyến. Sư Phụ và con vẫn tiếp tục gặp nhau trong thiện pháp, như Đức Phật đã dạy:

“Ai sống đời chánh hạnh
Là cúng dường Đức Phật
Bằng cách cao quí nhất
Trong các sự cúng dường…”

Do đó, hàng đệ tử hậu học chúng con tiếp tục mang nếp sống chánh hạnh, trau giồi thiện pháp hằng ngày cúng dường lên Sư Phụ và Đức Phật vậy.

Văn chương, chữ nghĩa, những lời hay đẹp ca tụng, tô điểm một kiếp người rồi cũng nhạt nhoà, phôi phai theo năm tháng. Chỉ có nếp sống chánh hạnh, trau giồi thiện pháp là sự nghiệp của người tu Phật và được truyền thừa dài lâu cho hạnh phúc chúng sanh.

Kính Sư Phụ hoan hỷ sống với chúng con trong từng thiện niệm.

Port Arthur, Texas,
ngày 11/2/2020
Tỳ kheo Trí Quảng.





Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
30/06/2012(Xem: 12530)
Thành Kính Tưởng Niệm Hòa Thượng Thích Giác Lâm (1928 - 2012)
24/06/2012(Xem: 25124)
Kính lạy tôn dung Ngài Con xin tìm lại dấu xưa 39 năm, hai thế kỷ sao vừa Nín thở, lặng yên, đọc từng con chữ
12/06/2012(Xem: 8553)
Hòa thượng họ Đỗ, huý Châu Lân, sinh năm 1927 (Đinh Mão) tại thôn Quan Quang, xã Nhơn Khánh, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. Thân phụ là cụ ông Đỗ Hoạch, và thân mẫu là cụ bà Trần Thị Tú. Gia đình gồm năm người con, hai trai và ba gái; Hòa thượng Thích Đỗng Quán thứ ba, và Ngài là thứ tư. Gia đình Ngài đời đời thuần tín Tam bảo. Cha mất sớm, được mẹ chăm lo dạy dỗ. Với bẩm tánh thông minh và hiếu học, năm 11 tuổi Ngài thi đậu bằng Yếu lược. Việc này chưa xảy ra ở vùng quê của Ngài nên đích thân ông Lý trưởng đến thăm và chúc mừng. Đó là một vinh dự cho gia đình và quê hương Ngài lúc bấy giờ.
11/06/2012(Xem: 9825)
Sự nghiệp thiền sư Tăng Hội rất lớn lao. Nhờ vào những trước tác của Thầy mà ta biết được hành tướng của sự thực tập thiền tại trung tâm Luy Lâu Việt Nam và tại trung tâm Kiến Nghiệp Trung Quốc ngày xưa. Tư tưởng thiền của thầy Tăng Hội là tư tưởng thiền Đại Thừa, đi tiên phong cho cả tư tưởng Hoa Nghiêm và Duy Thức Bao giờ các chùa Việt Nam sẽ thờ tổ Khương Tăng Hội Hiện nay chúng ta đang ở thế kỷ XXI với nền văn minh rực rỡ, với nhiều thiết bị hiện đại, với mức sống rất cao, với vốn hiểu biết rất thien su khuong tang hoi.jpg
10/06/2012(Xem: 18261)
Cố Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Trí Chơn, thế danh Trương Xuân Bình, sinh ngày 20 tháng 11 năm 1933 (Quý Dậu) tại Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận, Việt Nam, là con thứ sáu trong một gia đình mười hai anh chị em. Thân sinh của Cố Trưởng Lão Hoà Thượng là cụ Trương Xuân Quảng, mất năm 1945, nguyên quán làng Kim Thành, quận Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, làm quan dưới thời Pháp thuộc, được bổ nhậm chức Kiểm Học (tương đương với Trưởng Ty Nha Học Chánh dưới thời các chính phủ quốc gia sau này) tỉnh Bình Thuận năm 1933 – 1939, và Đốc Học tỉnh Quảng Ngãi năm 1940 – 1945. Nhờ túc duyên với Phật Pháp, nên đến năm 1950, Cố Trưởng Lão Hoà Thượng đến Chù
06/06/2012(Xem: 17996)
Hòa thượng Thích Quảng Đức, Pháp danh Thị Thủy, Pháp tự Hành Pháp và thế danh là Lâm văn Tức, sinh năm 1897 tại làng Hội Khánh, quận Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa...
30/05/2012(Xem: 11119)
Tín Nghĩa tôi đến định cư Hoa Kỳ vào ngày 19 tháng 09 năm 1979, do nhị vị Hòa thượng Thích Thiên Ân và Hòa thượng Thích Mãn Giác bảo lãnh từ trại tỵ nạn Hongkong. Ngồi tính sổ thời gian thì cũng đã gỡ gần ba chục cuốn lịch. Giá như thời gian này mà ở trong tù thì cũng mục xương và chẳng bao giờ được thấy ánh sáng của thiên nhiên.
27/05/2012(Xem: 25107)
Tác phẩm Trí Quang Tự Truyện bản pdf và bài viết "Đọc “Trí Quang Tự Truyện” của Thầy Thích Trí Quang" của Trần Bình Nam
15/05/2012(Xem: 9046)
Trong đạo lập thân của người xưa – lập công, lập đức, lập ngôn– thì lập ngôn thường được cho là quan trọng nhất, vì đó là phần “hình nhi thượng”, là tinh hoa tư tưởng cá biệt của một dòng đời mang tính truyền thừa lâu dài và sâu xa cho hậu thế. Người đem hết năng lực tinh thần và tri thức của đời mình để lập ngôn thì thành nhà tư tưởng, triết gia. Người đem chất liệu đời mình để viết lại thì thành tác giả tự truyện, hồi ký.
09/05/2012(Xem: 12374)
Sự xuất hiện của Tổ sư Liễu Quán (1667-1742) như là một Bồ tát bổ xứ, thực hiện sứ mệnh lịch sử: Không chỉ duy trì và phát triển mạch sống Phật giáo Việt Nam giữa bối cảnh xã hội tối tăm, Phật pháp suy đồi mà còn thể hiện sự xả thân vì đạo; lập thảo am, ăn rong, uống nước suối, hơn mười năm tham cứu công án, tu hành đắc đạo.