Giữ Tâm Đại Nguyện (thơ)

02/01/202010:07(Xem: 11819)
Giữ Tâm Đại Nguyện (thơ)
ht tri quang 1923-2019
Giữ Tâm Đại Nguyện.

Thét gầm sư tử trùng duyên,
Gá thân mở lối, giữa huyền thiền môn.
In lời nguyện ước Thế Tôn,
Ba y nhất xứ, nhã ngôn thét gầm.

Quyện thân tuyệt thực Trăm tầm,
Gối tri tuệ giác, giữa trần hồng say.
Dịch từng con chữ đông đầy,
Lời ca Đức Phật, Tổ Thầy bảo ban.

Dụng hành kinh Pháp Hoa Trang,
Kinh văn Thủy Sám, Cú đàm Nam Tông.
Lương Hoàn Sám nguyện truy phong,
Lạy từng Vạn Phật, nối dòng Luật Nghi.

Dự thời Nạn Pháp ba thì,
Giữ tâm địa nguyện, huyền vi Đạo Tình.
Rung thời xứ Mỹ rung rinh,
Ngôn Thông Mật giáo, Luật Kinh Luận hàm.

Sám mươi năm kiết thất tràm,
Ấn Quang Một thữa, niệm ngàn Tu Bi.
Già Lam chốn tuệ đến đi,
Tu trì mật ngữ, khắc ghi lời Thầy.

Từ Đàm ấn giã huyền mây,
Phổ Minh thế Phát, y bay pháp huyền.
Dung từ áng nhật chân nguyên,
Gởi thân tạm giã, chuyến thuyền liên hoa.

Trà Tỳ lửa bốc uy toà,
Xá Lợi Thủ Ngọc, dung hoà nhân duyên.
Mây trời đất ước mộng bền,
Cung tiễn Thượng Trí, dạo niềm Lạc Bang.

Lưu trang Ngọc tuệ y vàng,
Thiên từ Ân hạnh, dung hành phụng thi.
Quang thượng hạ Tịnh khắc ghi,
Mây từ uy giáo, hành trì Đạo Mâm.

Năm mươi ngày vọng Thượng Nhân,
Tháp uy hùng Nhập, duyên trần mãn viên.
Cố Đô lưu ảnh chân huyền,
Ngầm bay phụng chiếu, thượng niềm thong dong.

          - Cung Kính Khể Thủ:
          Chúng con hàng hậu học ngu huyền, duyên gặp và đảnh lễ trong chốn Già Lam, nơi Cố Thượng Nhân Tôn Sư lưu dấu.
Đến đi như đúng nghĩa thét gầm, tu như kim cang bất hoại, giới hành nhượng đàn thâu, Từ như uy hùng, Nhơn như tâm sáng lộng vầng trăng.
          Giới kinh thông tuệ, giữ gìn phẩm hạnh như nền tảng căn bản, Phật Giáo Việt, giữa Niềm Nam Trung lưu nhớ, trang sử bi hùng luôn là diềm mối khắc ghi cho chúng con học từ Thượng Nhân Tôn Sư.
          Hôm nay, ngày 01-12-Kỷ Hợi, là ngày Chung Thất, theo di nguyện, trầm hùng đúng lời dạy kính lễ và bảo tháp từ nhạc trời cung tiễn dấu chân Ngài Thượng Nhân Tôn Sư nhập huyền tháp.
         "Phụng Vị Tối Thắng Tử Thiền Minh thượng Trí hạ Quang Tỳ Kheo Chi Vị."
          Con Tk: Thích Minh Thế, kẻ hậu học hiền ngu, quỳ dưới Phật Đài, chấp bút ứng thơ, dâng ngài, chúng con nguyện Cố Thựơng Nhân Tôn Sư, Thượng Phẩm Hoa Liên, an trú hồi nhập cho chúng con trí tuệ xưa.
             
 Tk: Thích Minh Thế
 Hỷ Tâm Hải Triều
Cảm tác ngày 26-12-2019, (01-12- Kỷ Hợi ),tại chùa Liên Hoa, thuộc thành phố San Antonio- Mỹ Quốc.
Trong khoá tu kiết đông.
Ngồi dưới ánh nắng trong cơn lạnh bên hiên chùa Liên Hoa.
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
15/07/2011(Xem: 9197)
Thiền sư húy thượng NGUYÊN hạ BÀNG - ĐẠI NGUYỆN tự CHÍ NĂNG hiệu GIÁC HOÀNG , thế danh LÊ BẢN, sinh năm Canh Dần 1950, tại thôn An Ngãi, xã Nhơn An huyện An Nhơn tỉnh Bình Định. Ngài sinh trong một gia đình nhiều đời sùng kính Tam Bảo. Thân phụ: Cụ ông LÊ TRÀ, thân mẫu: Cụ Bà TRẦN THỊ TÁM. Ngài là anh cả trong gia đình gồm có năm người con.
24/06/2011(Xem: 9400)
Vua Lê Đại Hành mất vào năm 1005, các hoàng tử tranh giành ngôi vua tạo nên cảnh khổ đau tràn ngập cho Dân Tộc, bên trong bị nội loạn, bên ngoài bị ngoại xâm đe dọa. Trước những thảm trạng đen tối u ám và đầy dẫy những thống hận đó, Vạn Hạnh thiền sư xuất hiện như một thứ ánh sáng phi thường quét sạch vùng trời giông tố để đưa vận nước bước vào thời đại huy hoàng thịnh trị.
24/06/2011(Xem: 8903)
Trận chiến thắng Bạch Đằng của Ngô Vương Quyền năm 939 là một dấu mốc quan trọng trong lịch sử dựng nước của Việt Nam. Ngọn sóng Bạch Đằng Giang đã cuốn trôi đi nỗi đau nhục của người dân nô lệ, nhận chìm tham vọng của nòi Hán áp đặt lên đất nước ta trong suốt một ngàn năm. Từ đây Việt Nam không còn là một huyện lỵ của người Hán, từ đây một quốc gia đúng nghĩa đã xuất hiện dưới vòm trời Đông Á.
24/06/2011(Xem: 11182)
Ngài họ Nguyễn húy là Hữu Kê, dòng họ của Đại thần Nguyễn Trãi. Nguyên quán thuộc Tông sơn Gia miêu Ngoại trang, tỉnh Thanh Hóa. Ngài thọ sanh năm Nhâm Tý (1912), tại làng Nguyệt Biều, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên. Vốn thọ sanh trong gia đình vọng tộc, quý phái, thích lý luận Nguyễn Hữu Độ.
24/06/2011(Xem: 7941)
Ngài Mật Thể, pháp danh Tâm Nhất, pháp tự Mật Thể, tên thật là Nguyễn Hữu Kê, sinh năm 1912 ở làng Nguyệt Biều, quận Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên. Chánh quán huyện Tống Sơn, Gia Miêu ngoại trang, tỉnh Thanh Hóa, thuộc dòng Thích Lý của Cụ Nguyễn Hữu Độ. Gia đình Ngài qui hướng đạo Phật, cụ thân sinh và người anh ruột đều xuất gia.
23/06/2011(Xem: 8654)
Đọc Thánh Đăng Ngữ Lục, do Sa môn Tánh Quảng, Thích Điều Điều đề tựa trùng khắc, tái bản năm 1750, ta thấy đời Trần có năm nhà vua ngoài việc chăn dân, họ còn học Phật, tu tập và đạt được yếu chỉ của thiền, như vua Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Anh Tông và Trần Minh Tông. Và sự chứng ngộ của các Thiền sư đời Trần thì không thấy đề cập ở sách ấy, hoặc có đề cập ở những tư liệu khác mà hiện nay ta chưa phát hiện được, hoặc phát hiện thì cũng phải tra cứu và luận chứng dài dòng rồi mới kết đoán ra được.
23/06/2011(Xem: 9321)
Đọc sử Phật giáo Việt Nam, hẳn chúng ta đều biết nước mình có một ông vua đi tu ngộ đạo, đó là vua Trần Nhân Tông. Ngài làm vua trong thời gian nước nhà đang bị quân Mông Cổ đem đại quân sang xâm lấn nước ta lần thứ ba.
22/06/2011(Xem: 12409)
Trong sáu thập niên qua, TIME đã không ngừng ghi chép lại những vinh quang cùng khổ nhọc của Á châu. Trong số đặc biệt kỷ niệm thường niên hôm nay, chúng tôi muốn bày tỏ lòng kính trọng của mình đến những nhân vật nổi bật đã góp phần vào việc hình thành nên thời đại chúng ta. Những thập niên xáo động nhất của một lục địa đông dân nhất trên trái đất này đã sản sinh ra hàng loạt những nhân vật kiệt xuất. Trong sáu mươi năm qua, kể từ khi TIME bắt đầu cho xuất bản ấn bản Á Châu, chúng tôi đã có cái đặc ân là được gặp gỡ đa số những nhân vật ngoại hạng này –theo dấu cuộc vận động hay trên chiến trường, trong phòng hội hay trong phòng thí nghiệm, tại cơ sở sản xuất hay tại phim trường.
16/06/2011(Xem: 7777)
Tôi có duyên lành gặp được ngài một lần khi ngài đến thăm Hòa thượng chùa Đông Hưng, bổn sư của tôi, cũng là y chỉ sư của Hòa thượng Quảng Thạc, một để tử xuất gia của ngài khi còn ở đất Bắc. Cung cách khiêm cung, ngài cùng Hòa thượng tôi đàm đạo về quá trình tu tập cũng như Phật học, hai ngài đã rất tâm đắc về chí nguyện giải thoát và cùng nhau kết luận một câu nói để đời : “Mục đích tu hành không phải để làm chính trị”. Cũng câu nói này, khi chia tay chư tăng miền Nam, ngài đã phát biểu với hàng pháp lữ Tăng ni đưa tiễn. Khi sưu tập tư liệu về cuộc đời của ngài, tôi may mắn gặp được các bậc tri thức cao đồ của ngài kể lại. Nay, nhân có cuộc hội thảo về phong trào chấn hưng Phật giáo miền Bắc và công hạnh của ngài, tôi xin được góp thêm đôi điều.
14/06/2011(Xem: 9076)
Thiền sư PHÁP THUẬN (Bính Tý 918): Thiền sư đời Tiền Lê, thuộc dòng thiền Tỳ-Ni-Đa-Lưu Chi, không rõ gốc gác quê quán và tên thật, chỉ biết rằng Sư họ Đỗ, xuất gia từ thuở nhỏ ở chùa Cổ Sơn (Thanh Hóa), sau theo học đạo Thiền sư Phù Trì ở chùa Long Thọ, nổi tiếng là uyên thâm đức độ. Tương truyền rằng chính Sư đã dùng nghệ thuật phù sấm, làm cố vấn giúp vua Lê Đại Hành nắm quyền bính, dẹp yên được hỗn loạn trong triều cuối đời nhà Đinh, được vua Lê vô cùng trọng vọng. Năm 990 niên hiệu Hưng Thống thứ 2, Sư không bệnh mà viên tịch, thọ 76 tuổi, để lại cho đời các tác phẩm: “Bồ Tát sám hối văn”, “Thơ tiếp Lý Giác”, và một bài kệ.