Chí Cầu Niệm Phật

21/12/201910:06(Xem: 6846)
Chí Cầu Niệm Phật

phatdida

CHÍ CẦU NIỆM PHẬT

Nam Mô A Di Đà Phật

Kính bạch Ni Sư Giới Hương,

Con là Sadini Diệu Hải, sư đệ cùng thầy Hải Triều Âm với Ni sư Giới Hương. Con là đứa em hậu học, lớn tuổi, lại suốt ngày ở trong tịnh thất, quê mùa, ít tiết xúc với thế giới bên ngoài. Theo cảm nghĩ của con, Ni Sư là một người đàn chị, sư tỷ, rất thương các đàn em nhỏ, đệ tử, phật tử; Ni sư luôn luôn làm thỏa mãn mọi mong cầu tâm linh, mỗi khi ai cần nhờ đến Ni Sư, cũng không bao giờ từ chối và cũng không nề mệt mỏi. Ni Sư lại là người tu hành rất cương quyết dứt khoát, nhẫn lại, quyết trí thực hiện để đạt được ý nguyện của mình vượt qua mọi khó khăn.

Kính bạch Ni Sư: nay vâng lời Ni Sư, con xin chép lại một đoạn Kinh dạy Niệm Phật của Đại Sư Hán Sơn (Trích trong quyển "Quê Hương Cực Lạc" của Hòa Thượng Thích Thiện Tâm) mà thầy Hải Triều Âm hay đọc để kính tặng Ni sư:

HÁN SƠN ĐẠI SƯ KHAI THỊ

“Mỗi ngày trừ hai thời công phu chỉ đem câu A Di Đà Phật đặt ngay ngực, niệm niệm chẳng quên, tâm tâm chẳng mê, hết thảy sự đời chẳng nghĩ ngợi đến. Chỉ lấy câu Phật làm mạng sống của mình, cắn chặt hàm răng quyết chẳng buông bỏ, thậm trí ăn uống, cử động, đi đứng, nằm ngồi một tiếng niệm Phật này thời thời hiện tiền.

Nếu gặp cảnh thuận nghịch, vui giận, phiền não, lúc tâm chẳng yên, bèn đem tiếng niệm Phật nhiều lên, liền thấy phiền não khi ấy tiêu diệt. Bởi niệm Phật phiền não là gốc sanh tử, nay dùng niệm Phật tiêu diệt phiền não chính là Phật độ nỗi khổ sanh tử. Nếu niệm Phật tiêu trừ phiền não, liền có thì khỏi sanh tử, không có pháp gì khác.

Nếu niệm Phật đến khi làm chủ được phiền não, thì làm chủ được mộng du, nếu trong mộng đã kiểm soát được thì khi bệnh khổ cũng làm chủ được. Nếu đã làm chủ được "bản thân" trong khi bệnh tật, trừ khi mạng chung liền biết chỗ sanh về.

Sự này chẳng khi cần, chỉ cần làm với một niệm sanh tử, tâm khẩn thiết chỉ cần dựa vào một mình tiếng niện Phật, không có suy nghĩ gì khác. Lâu ngày thuần thục, tự nhiên được đạo an lạc, được đại thọ dụng.”

Nhân dịp Kỷ niệm 40 năm Tu Học và Hoằng Pháp của Ni sư, chúng con kính chúc Ni sư và chư Ni chúng chùa Hương Sen thân thương sức khỏe dồi dào, luôn niệm Phật và chia sẻ pháp môn tịnh độ này đến với mọi chúng sanh như công hạnh của Tổ Hám Sơn và Thầy Hải Triều Âm.

 

Con thành tâm kính lễ,

Tịnh Thất Giác Huệ, TX, ngày 18/11/2019

Sadini Diệu Hải
([email protected])





Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
23/10/2010(Xem: 8828)
Trong Cây Có Hoa Trong Đá Có Lửa Kính Dâng Hòa Thượng Thích Như Điển nhân dịp mừng thọ 70 tuổi của Ngài và kỷ niệm 40 năm khai sơn Chùa Viên Giác tại Đức Quốc Tỳ Kheo Thích Nguyên Tạng “Trong Cây Có Hoa, Trong Đá Có Lửa” là lời pháp ngữ của Thiền Sư Đạo Nguyên do Hòa Thượng Thích Như Điển nhắc lại trong thời giảng Pháp của Ngài mà tôi đã nghe được khi theo hầu Ngài trong chuyến đi Hoằng Pháp tại Hoa Kỳ năm 2006. Thiền Sư Đạo Nguyên (Dogen) là người Nhật, Ngài sinh năm 1200 và tịch năm 1253, thọ 53 tuổi. Ngài là Sáng Tổ của của Soto-Zen (Thiền Tào Động) của Nhật Bản, và là tác giả bộ sách nổi tiếng “Chánh Pháp Nhãn Tạng” “Ki no naka ni, hana ga aru (Trong cây có hoa), Ishi no naka ni, hi ga aru (Trong đá có lửa)” Đó là pháp ngữ của Thiền Sư Đạo Nguyên (Dogen), được Hòa Thượng Như Điển dịch sang lời Việt. Lời thơ quá tuyệt vời, tuy ngắn gọn nhưng dung chứa cả một kho tàng giáo lý về Nhân Duyên Quả của Đạo Phật.
23/10/2010(Xem: 8760)
Trong mười thế kỷ phong kiến Việt Nam, Trần Nhân Tông là một trong những ông vua giỏi và tài hoa bậc nhất. Lịch sử đã xem ông là “vị vua hiền” đời Trần, có công lớn trong sự nghiệp trùng hưng đất nước. Văn học sẽ nhớ mãi ông bởi những vần thơ thanh nhã, sâu sắc và không kém hào hùng.
23/10/2010(Xem: 8559)
Về sự nghiệp của vua Trần Nhân Tông, đã có rất nhiều tài liệu và bài viết về hai lần lãnh đạo quân dân nước ta đánh thắng giặc Mông - Nguyên, trị quốc an dân, đối ngoại và mở cõi, nên ở đây chúng tôi không lặp lại nữa, mà chỉ đề cập đôi nét đến nội dung khác về: Trần Nhân Tông - một hoàng đế xuất gia, một thiền sư đắc đạo và là sơ tổ lập nên dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử độc đáo của Việt Nam.
23/10/2010(Xem: 8393)
Hội Phật Học Nam Việt được thành lập vào năm 1950 tại Sài Gòn do sự vận động của cư sĩ Mai Thọ Truyền. Ban đầu, hội đặt trụ sở tại chùa Khánh Hưng, và sau đó ít lâu, tại chùa Phước Hòa. Bác sĩ Nguyễn Văn Khỏe, một cây cột trụ của hội Lưỡng Xuyên Phật Học cũ đảm nhận trách vụ hội trưởng. Ông Mai Thọ Truyền giữ trách vụ tổng thư ký. Các thiền sư Quảng Minh và Nhật Liên đã triệt để ủng hộ cho việc tổ chức hội Phật Học Nam Việt. Thiền sư Quảng Minh được bầu làm hội trưởng của hội bắt đầu từ năm 1952. Năm 1955, sau khi thiền sư Quảng Minh đi Nhật du học, ông Mai Thọ Truyền giữ chức vụ hội trưởng. Chức vụ này ông giữ cho đến năm 1973, khi ông mất. Hội Phật Học Nam Việt được thành lập do nghị định của Thủ Hiến Nam Việt ký ngày 19.9.1950. Bản tuyên cáo của hội có nói đến nguyện vọng thống nhất các đoàn thể Phật giáo trong nước. Bản tuyên cáo viết: "Đề xướng việc lập hội Phật học này. Chúng tôi còn có cái thâm ý đi đến chỗ Bắc Trung Nam sẽ bắt tay trên nguyên tắc cũng như trong hành động. Sự
23/10/2010(Xem: 7959)
Cư sĩ Mai Thọ Truyền sinh ngày 01-4-1905 tại làng Long Mỹ, tỉnh Bến Tre trong một gia đình trung lưu. Thuở nhỏ ông được theo học tại trường Sơ học Pháp - Việt Bến Tre, rồi Trung học Mỹ Tho, và Chasseloup Laubat Saigon. Năm 1924, ông thi đậu Thư ký Hành chánh và được bổ đi làm việc tại Sài Gòn, Hà Tiên, Chợ Lớn. Năm 1931, ông thi đậu Tri huyện và đã tùng sự tại Sài Gòn, Trà Vinh, Long Xuyên và Sa Đéc. Hành nhiệm ở đâu cũng tỏ ra liêm khiết, chính trực và đức độ, không xu nịnh cấp trên, hà hiếp dân chúng, nên được quý mến.
23/10/2010(Xem: 12969)
Trong lịch sử dựng nước, giữ nước và xây dựng, bảo vệ Tổ quốc của dân tộc Việt Nam, vương triều Trần (1226-1400) được tôn vinh là triều đại sáng chói nhất thể hiện qua những chiến công hiển hách thắng giặc ngoại xâm cũng như chính sách hộ quốc an dân đã tổng hợp được sức mạnh của toàn dân ta cùng với vua quan trong việc bảo vệ và phát triển đất nước vô cùng tốt đẹp.
23/10/2010(Xem: 21911)
Nhiều thế kỷ trước, một vị vua đã lãnh đạo dân tộc Việt Nam hai lần đẩy lui quân Mông Cổ xâm lăng. Một hôm, vào năm 1293, vị vua anh hùng này đã rời ngôi vua, và vài năm sau trở thành một nhà sư và đã để lại một di sản Thiền Tông bây giờ vẫn còn phát triển để trở thành dòng Thiền lớn nhất tại Việt Nam. Ngài tên là Trần Nhân Tông, vị vua thứ ba của Nhà Trần và là vị sáng lập Dòng Thiền Trúc Lâm.
22/10/2010(Xem: 26674)
Vào khoảng các năm 1972–1974, Cố Hòa thượng Thích Trí Thủ, thường được Tăng Ni-Phật tử gọi cung kính gần gũi là “Ôn Già Lam”, đang trong thời gian dài hoằng pháp tại Nha Trang và các tỉnh miền Trung, Ôn tạm an trú trên chùa Hải Đức, nơi có Phật học viện Trung Phần, trên ngọn đồi Trại Thủy. Khoảnh vườn và thềm hiên phía trước tịnh thất của Ôn dần dà trở thành một hoa viên nho nhỏ với nhiều cây cảnh hoa lá đẹp lạ, là nhờ ở bàn tay chăm sóc thương yêu của một vị cao tăng đức độ nhân từ.
22/10/2010(Xem: 9227)
Chuông ngân chùa xẩm nắng Hương quyện áo tràng bay Trăm tám vì sao rạng Xoay tròn đôi 1óng tay Mười phương cây lặng gió Năm sắc hồ trôi mây Làn nước lên đầu núi Ánh vàng tràn đó đây.
21/10/2010(Xem: 10275)
Trong cõi nhân gian mịt mù tăm tối vì vô minh và phiền não, sự xuất hiện của một bậc chân tu đạo hạnh để dìu dắt con người trên đường tìm về giác ngộ và giải thoát, quả thật không khác gì một vì sao sáng trên bầu trời làm định hướng cho lữ hành trong đêm tối. Trong ý nghĩa này, Cố Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Trí Chơn là một vì tinh tú sáng rực.