Lửa Hiền Bừng Không (thơ)

11/11/201907:04(Xem: 12758)
Lửa Hiền Bừng Không (thơ)

Thich Minh The (3)


Lửa Hiền Bừng Không.


Gậy thiền chống dựng trời mây,
Mưa tuôn Ngọc lệ, tiễn Thầy quy phương.
Nhạm không ảnh hoá phiêu nhương.
Rong ba sấm tuệ, soi đường ngàn sau.

Cố Đô ứng hạnh niệm lầu,
Dòng Hương in bóng, ai sầu Cố Nhân.
Thiền Minh danh tự sáng ngần,
Danh Tăng Pháp học, hạc vầng trăm năm.

Trí uy hùng bồ đề Tâm,
Quang minh hạnh nguyện, độc thầm chân tu.
Hạnh từ Bồ Tát chân như,
Thông lầu kinh Tạng, tàng thư trầm hùng.

Giã hành tứ đại dung thông,
Lưu hình sắc tướng, sắc không bản huyền.
Mộng tan cảnh mộng uy nguyên,
Dung hành hoá kiếp, lửa hiền bừng không.

Chín bảy năm ngọn đào phong,
Chính Ngài an trú, cõi lòng không chơn.
Kiếm thời tạm gác thua hơn,
Ôm Tàng vô tận, cung đàn kinh thi.

Ứng Thân Bồ Tát huyền vi,
Chữ Tu hầu Mẹ, nguyện ghi trọn đời.
Ứng Thân lệnh kiếp rung trời,
Đức hành Năm huấn, rạng ngời huyền Tây.

Hoá duyên mãn kiếp cõi này,
Cố An nhiên tịch, lời Thầy chiếu bang.
Không gì nghĩa cũng hoàng không,
Chỉ im mật ngữ, sấm vang ngàn đời.

Thich Minh The (1)Thich Minh The (2)Thich Minh The (3)Thich Minh The (4)Thich Minh The (5)
NAM MÔ LÂM TẾ TÔNG TỨ THẬP NHẤT THẾ, NGUYÊN THIỀU THIỀN PHÁI, HÚY THƯỢNG NHẬT HẠ QUANG TỰ TRÍ QUANG HIỆU THIỀN MINH BỒ TÁT MA HA TÁT.

Chúng con Tk: Thích Minh Thế, hàng hậu học giữa thời hoà bình, nương Đức từ của Ngài, bật long trượng thiền gia, cho chúng con tu học trong những năm tháng bên ngôi nhà chánh pháp.
Chúng con đã về bên Đức Ngài, trong mùa đông xứ Huế, quỳ trước dung ảnh, bên không sắc thị tướng kim quan, chấp đôi tay bé nhỏ, lặng nghe giọt mưa thấm vào trong cõi không tịch lặng.
Im lặng và hùng tráng, thanh tịch bậc chân tu, xa từ lòng dung dị, sấm tiếng rống trời Tây.
Chúng con, mong Đức Ngài thị tướng lưu thân trong ngọn lửa bất diệt giữa thời Phục Hưng tìm nguồn tuệ giác trong áo nghĩa huyền thi.
Chúng con kính Khể Thủ.
Hàng hậu học..!
Ngày 14-10- Kỷ Hợi.
Viết tại hiên chùa Từ Đàm, nơi lưu dấu nhục Thân Đức Ngài, trong không gian tịch lặng.



Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
29/03/2013(Xem: 11808)
Đức Đại Lão Hòa thượng Chánh Thư Ký Xử Lý Viện Tăng Thống GHPGVNTN là thế hệ thứ 8 của phái Thiền Thiệt Diệu Liễu Quán, Pháp danh Trừng Nguyên, Hiệu Đôn Hậu. Xuất gia và thọ cụ túc với Hòa thượng Bổn sư là Tổ Tâm Tịnh, khai sơn Chùa Tây Thiên Huế, sau các Pháp huynh là quý Hòa thượng Giác Nguyên, Giác Viên, Giác Tiên, Giác Nhiên. . .
29/03/2013(Xem: 8955)
Trường trung học chưa được cất. Ngoài giờ học, bọn trẻ tha hồ đi rong chơi. Khi lên núi Lăng, khi lên Thạch Động, lúc ra biển Mũi Nai. Mấy đứa con trai rắn mắt, thích cảm giác mạnh thì rủ nhau hái trộm xoài, đặt bẫy, bắn chim hoặc xuống mé biển dưới chân hòn Kim Dự, ...
29/03/2013(Xem: 7889)
Nói đến thơ và nền Triết Học lưu xuất từ Tư Tưởng Phật học Tánh Không hay một Triết lý phiêu bồng từ Đông sang Tây của thế tục đế, hầu như đã được tồn đọng trong con người gầy guộc, nhỏ nhắn, dáng dấp phiêu diêu, lãng đãng như sương sớm, mây chiều.
29/03/2013(Xem: 7516)
Những năm tháng dùi mài kinh điển trong các tự viện để thể nhập Phật học huyền vi, u hiển, một thời nào đó đã lầu thông giáo lý cao siêu giải thoát, hướng thân lập mệnh trên con đường giác ngộ, để rồi hôm nay là thành quả hiển nhiên có được tận cùng tâm hồn sâu thẳm mà Thầy đang phô diễn như ý nghĩa cao siêu của Đại Bi Tâm.
29/03/2013(Xem: 8173)
Đây là chủ đề bài thuyết trình của diễn giả Nguyên Siêu, tác giả 650 trang sách trong tác phẩm “Tuệ Sỹ Đạo Sư, Thơ, Và Phương Trời Mộng” tập 1 và tập 2 vừa hoàn thành và được chính thức ra mắt tại hội trường của Hiệp Hội Người Việt tại San Diego, miền Nam California.
29/03/2013(Xem: 14915)
Tôi người Quảng Bình, 1 trong 3 nơi mà Huyền Trân công chúa mới đáng là thành hoàng. Tổ tiên gốc người Hải dương, 4 cha con cùng có mặt trong đạo quân tiếp quản Quảng Bình, rồi định cư ở 3 làng. Thuận Lý là con trưởng, kế đó, Phương Xuân là con thứ 2. Diêm điền, làng tôi, là nơi Tổ của làng tôi cùng con út định cư.Làng tôi cách trung tâm tỉnh lỵ Quảng bình chỉ có chừng 600 mét đường chim bay.
27/03/2013(Xem: 17423)
Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư, Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 01 (2007, Canada) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 02 (2008, Hoa Kỳ) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 03 (2019, Hoa Kỳ) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 04 (2010, Đức) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 05 (2011, Pháp) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 06 (2012, Úc) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 07 (2013, Hoa Kỳ) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 08 (2014, Úc) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 09 (2015, Pháp) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 10 (2016, Canada) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 11 (2018, Pháp) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 12 (2020, Úc)
18/03/2013(Xem: 8407)
Viện Đại học Vạn Hạnh ở Sài Gòn, thủ đô miền Nam Việt Nam, trước năm 1975 là một trung tâm văn hóa Phật giáo nổi tiếng lừng lẫy. Nơi đây đã quy tụ biết bao hào kiệt trượng phu, biết bao tao nhân mặc khách, biết bao giáo sư, triết gia cự phách thượng đẳng. Đặc biệt là các thiên tài xuất chúng siêu việt như Phạm Công Thiện, Tuệ Sỹ, Lê Mạnh Thát, nổi bật nhất là Bùi Giáng, một thi sĩ kỳ dị, xưa nay chưa từng thấy xuất hiện trên bầu trời văn nghệ Việt Nam và thế giới.
11/03/2013(Xem: 8562)
Lê Quý Đôn (1726-1784) là một danh sĩ, nhà văn hóa, sử gia, sống vào đời Hậu Lê. Ông không những ba lần thi đều đỗ đầu, kinh qua nhiều chức quan, đã từng đi sứ sang Trung Quốc, mà còn là một nhà bác học, đã để lại một gia tài đồ sộ bao gồm khoảng 16 tác phẩm và nhiều thơ, phú bằng chữ Nôm khác. [1] Trong số những tác phẩm ấy, có Kiến văn tiểu lục, [2] là một tác phẩm dành riêng quyển 9 – thiên Thiền dật, để viết về Phật giáo và Thiền tông Phật giáo Việt Nam, chủ yếu là những vị Tổ thuộc Thiền phái Trúc lâm. Trong bài viết ngắn này, chúng ta thử chỉ tìm hiểu quan điểm của Lê Quý Đôn về Phật giáo, mà không bàn sâu đến phần Thiền tông Việt Nam mà ông đã chép.
21/02/2013(Xem: 9600)
Hòa thượng Thích Tâm Giác, thế danh là Trần Văn Mỹ, sinh năm 1917 tại tỉnh Nam Định, thân phụ là cụ ông Trần Văn Quý, thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Suôi. Ngài là con trai thứ hai trong gia đình gồm hai trai một gái. Ngài sinh trưởng trong một gia đình Nho phong. Thân phụ Ngài tinh thông Hán học. Cả hai ông bà lại rất thâm tín Phật pháp. Do đó, Ngài được hấp thụ ngay từ thuở ấu thơ hai nền văn hóa cổ truyền của dân tộc là Khổng giáo và Phật giáo.