Nét Từ Bao Dung (thơ)

03/11/201920:36(Xem: 10644)
Nét Từ Bao Dung (thơ)
Le tuong niem HT Nhu Y (136)
NÉT TỪ BAO DUNG
Con kính dâng Sư Ông bài thơ này sau khi con xem hình ảnh
Lễ Truy Niệm và Thọ Tang tại Tu Viện Quảng Đức (xem hình)

Hôm nay Quảng Đức đạo tràng

Thành tâm cung kính lập Đàn thọ tang

Môn đồ pháp quyến nghiêm trang

Hướng về Linh ảnh của Ngài Bổn Sư

Hoà Thượng Như ý hiền từ

Môi cười mỉm nụ, nét từ bao dung.

Thầy con giọng đọc run run

Nhắc về Hoà Thượng vô cùng kính thương

Bao nhiêu ân nghĩa vấn vương

Từ thời thơ bé đến đường xuất gia

Song thân huynh đệ cả nhà

Quy y Ngũ giới, Ngài là Bổn sư

Sau nhờ phước đức có dư

Tâm Phương thế phát Bổn Sư là Ngài

Tiếp theo Nguyên Tạng chẳng nài

Khó khăn năm rộng tháng dài học kinh

Hoà Thượng Như Ý tận tình

Giảng thông đạt ý lý tình nghĩa kinh

Tâm Vân liễu phận nữ nhi

Thương tình Hoà Thượng dẫn đi tìm Thầy

Giờ đây hải ngoại rõ bày

Anh em ba vị hiển danh, ơn Ngài

Hoà Thượng Như Ý đại tài

Nghiêm minh giáo dục chẳng sai qui trình

Tinh thông Luật, Luận, Ngũ Kinh

Phát huy hoài bão: Tổ Đình Linh Sơn

Bao nhiêu năm tháng không sờn

Tiếp Tăng độ chúng luôn hơn trăm người

Giờ đây khắp bốn phương trời

Môn đồ tứ chúng rạng ngời tông môn

Âu Tây, Mỹ, Úc môn đồ

Noi gương Sư phụ đắp tô chùa chiền

Từ bi rộng mở cửa thiền

Độ người hiểu đạo não phiền tiêu tan.

Tuy Ngài là bậc Danh Tăng

Bao nhiêu chức vị  cưu mang chẳng màn

Niềm vui duy nhất nhìn đàn

Hậu sanh vững chãi trên đàng hoằng dương

Hôm nay thuận thế vô thường

Quy Tây cảnh lạc quê hương Phật Đà

Môn đồ tứ chúng gần xa

Cùng về hội tụ quê nhà chùa xưa

Tiếp tay làm lễ tiễn đưa

Tôn nghiêm hoành tráng như chưa bao giờ

Chúng con hổ phận thất cơ

Chỉ đành vọng kính vô bờ tiếc thương

Nguyện cầu Lạc cảnh Tây Phương

Đài sen Thượng phẩm Ôn đương ngự toà.

Nam Mô A Di Đà Phật
Sàigòn 3-11-2019
Đệ tử Thanh Phi









Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/04/2013(Xem: 10856)
Đọc qua các Thiền sư Việt Nam từ xưa đến nay, chưa thấy một người nào đã chinh phục được các hàng vương tôn, quý tộc, khiến cho họ tín nhiệm, quy y và ủng hộ hết mình như Thiền sư Pháp Loa. Sư là một con người tích cực hoạt động, suốt đời tận tụy phục vụ đạo pháp cho đến hơi thở cuối cùng. Điều đặc biệt quan tâm của Sư là ấn hành Đại Tạng kinh, do đó đã đề xuất, tiến hành và in xong bộ Đại Tạng kinh Việt Nam. Ngoài ra, Sư đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ thống nhất Phật giáo, thiết lập một Giáo hội Phật giáo thống nhất đầu tiên của Việt Nam, và Sư là người thứ nhất đúng ra thiết lập sổ bộ Tăng, Ni và tự viện trên khắp cả nước.
09/04/2013(Xem: 9471)
Sư người làng Vạn Tải, lộ Bắc Giang. Thỉ Tổ của Sư là Lý Ôn Hòa, làm quan Hành khiển dưới triều Lý Thần Tông (1128 - 1138). Trải nhiều đời, đến Tổ phụ là Tuệ Tổ, có công đánh giặc Chiêm Thành, nhưng không không chịu ra làm quan, chỉ thích những chuyện hay, sách lạ, và vui thú ruộng vườn. Mẹ Sư là Lê Thị, vốn người hiền đức, bản tính nhân từ, năm 30 tuổi vẫn chưa có con trai. Nhân gặp lúc có bệnh dịch hoành hành, bà đi hái thuốc trên núi Chu Sơn, dừng chân tạm nghỉ tại một ngôi chùa tên Ma Cô Tiên.
09/04/2013(Xem: 8675)
Truyền thống Phật giáo Việt Nam từ truớc đến nay vốn thiên về Phật giáo Phát triển hay Đại thừa; mãi đến năm 1959 lần đầu tiên bộ kinh Trường A Hàm do Hòa thượng Thích Thiện Siêu phiên dịch được xuất bản thì Phật giáo Nguyên thủy mới được các Phật tử chú ý đến. Mặc dù bộ kinh này nằm trong Hán tạng thuộc hệ thống Phật giáo Phát triển, nhưng tinh thần của nó thì tương quan mật thiết với 5 bộ Nikàya trong giáo lý Nguyên thủy.
09/04/2013(Xem: 8417)
Phương Tây có câu tục ngữ "Hoạn nạn làm lớn con người". Phương Đông cũng có câu danh ngôn tương tự "Ngậm cay đắng trong cay đắng mới làm con người trên loài Người". Trường hợp của Trần Thái Tông sao mà ứng với hai câu này đến thế?
09/04/2013(Xem: 8703)
Hòa thượng Thích Thiện Châu Nguyên Đạo (Đọc tại buổi lễ tưởng niệm và lễ Trà Tỳ Hòa thượng Thích Thiện Châu) Hòa thượng họ Hồ Đắc, tên Cư, Pháp danh Tâm Thật, Pháp hiệu Thiện Châu, sinh ngày 23 tháng 2 năm 1931 tức ngày 7 tháng 1 năm Tân Mùi tại làng An Truyền, huyện Phú Vang, Tỉnh Thừa Thiên. Thân phụ Thầy là Cụ Hồ Đắc Phách, thân mẫu là Cụ Nguyễn Thị Cần.
09/04/2013(Xem: 35759)
Hòa thượng pháp danh Thiền Tâm, pháp hiệu Liên Du, tự Vô Nhất thuộc dòng Lâm Tế Chánh Tông đời thứ 43, thế danh Nguyễn Nhựt Thăng, sinh năm 1925 (Ất Sửu) tại xã Bình Xuân, Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang. Song thân là cụ Nguyễn Văn Hương và cụ Trần Thị Dung pháp danh Giác Ân. Ngài là người thứ 10 trong số 13 anh em, 4 trai, 9 gái.
09/04/2013(Xem: 10314)
Hòa Thượng Thích Thanh Kiểm, thế danh Vũ Văn Khang, sinh ngày 23/12/1921 (Tân Dậu), tại làng Tiêu Bảng, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định. Thân phụ là Cụ Ông Vũ Đức Khanh, thân mẫu là Cụ Bà Đỗ Thị Thinh. Hoà thượng có 5 anh chị em, 3 trai 2 gái. Ngài là con thứ 4 trong gia đình.
09/04/2013(Xem: 8358)
Lý Càn Đức (Bính Ngọ 1066 - Mậu Thân 1128) là vua thứ 4 nhà Lý, con trai duy nhất của vua Lý Thánh Tông và Ỷ Lan phu nhân tức Linh Nhân hoàng hậu. Càn Đức sinh ra ở Cung Động Tiên, gác Du Thiềm (gác thưởng Trăng) vào tháng Giêng năm Bính Ngọ, niên hiệu Chương Thánh năm thứ 8 (23-2-1066), hồi vua Thánh Tông đã ngoài 40 tuổi. Một ngày sau ngày sinh thì được lập làm Thái tử, 6 tuổi vua cha mất, được tôn làm vua, tức vua Lý Nhân Tông. Vua có tướng hảo, tâm hiền, bản chất thông minh dũng lược.
09/04/2013(Xem: 9204)
Mỗi khi tâm niệm đến hành trạng Thiền sư Vạn Hạnh, chúng ta không thể không đề cập đến con người và sự nghiệp Lý Công Uẩn. Giá trị lịch sử của một con người không chỉ ảnh hưởng đến tự thân mà dư âm giá trị lịch sử của con người đó còn ảnh hưởng trực tiếp đến muôn người khác từ thế hệ này qua thế hệ khác. Và quả thật, Vạn Hạnh Thiền sư là người có công rất lớn trong việc khai sáng ra triều đại nhà Lý thì Lý Công Uẩn là vị vua đầu tiên thực thi tinh thần Vạn Hạnh bằng tất cả sự thể nhập "Đạo Pháp - Dân tộc" trong một thực thể duy nhất.
09/04/2013(Xem: 16591)
Có lần trong tù, đói quá, Thầy Quảng Độ nằm mơ thấy được nhà bếp cho một cái bánh bao. Ăn xong thấy bụng căng thẳng, no nê, rất hạnh phúc. Sự thật là đêm ấy, trước khi đi ngủ, vì đói quá nên thấy uống nước cho đầy bụng dễ ngủ. Và Thầy đã đái dầm ra quần. Sáng hôm đó Thầy có làm một bài thơ.