Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Đạo Từ của Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Chơn Thành

21/06/201914:39(Xem: 1153)
Đạo Từ của Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Chơn Thành

Đạo Từ của Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Chơn Thành

Hòa Thượng Thích Chơn Thành

Kính chào tất cả Quý Trưởng Lão Hòa Thượng, Quý Thượng Tọa, Quý Ni Trưởng, Ni Sư, quý Đại Đức Tăng – Ni, cùng Quý Quan Khách và Đồng Hương Phật Tử

Một hôm có một vị Ký giả Đoàn Trọng của Đài Little Sài gòn, hỏi với tôi rằng: “Con đã quen biết Hòa thượng và Hòa thượng Quảng Thanh khá lâu trong sinh hoạt cộng đồng, nhưng gần đây, cái gì hai Hòa Thượng cũng cùng nhau chia xẻ, cùng nhau giải quyết, thật là tâm đầu ý hợp, tại sao như vậy, bạch hòa thượng?

Tôi mỉm cười và ôn tồn đáp, xưa cũng như nay, Đức Phật thường dạy các đệ tử về luật nhân quả. Quá khứ là hạt giống, là mầm non, là phân bón, là nước non. Hôm nay là mầm non, là cây, là hoa đẹp trái ngọt. Giáo lý của Phật thật đơn giản như vậy. Với nhiều duyên khác nhau, khi nhìn quả là biết nhân, thấy nhân thì hiểu quả.

Cũng như vậy, đời trước tôi và thầy Quảng Thanh sinh cùng xóm cùng làng, hai anh em chúng tôi ngày nào cũng gặp nhau, cùng nhau đi chơi, quen nhau còn hơn anh em ruột thịt. Hai đứa lúc nhỏ cho đến hai mươi cùng rủ nhau đi tu cùng chùa. Vì như vậy, huynh đệ chúng tôi chia xẻ mọi việc Phật sự trong chùa. Vì thế, tôi biết nhiều về ông Sư Đệ này.

Hiện đời, chúng tôi sinh ra từ hai không gian và thời gian khác nhau, tôi Phú Yên, thầy Quảng Thanh sinh nơi Phan Thiết tỉnh Bình Thuận, nhưng lớn lên hai đứa tu ở hai ngôi Chùa khác nhau tại núi Trà Cú, cách tỉnh lỵ Phan Thiết 18 cây số. Đây là Thánh Địa của Phật Giáo Việt Nam từ nhiều trăm năm trước, do Tổ Hữu Đức từ Phú Yên vào đó tu tập và sáng lập. Núi Trà Cú lúc đó chỉ có các loài hoang dã, chưa có người ở. Ngài ngồi tu thiền trong một hang đá nhỏ bằng nửa phòng ngủ ngày nay, và Ngài đã chứng quả.

        Cuộc sống hằng ngày, ngài chỉ dùng rau, quả do những con vượn và những con khỉ hái trái, hái rau đem về cúng dường cho ngài. Trên miệng hang đá có hai Cọp Trắng từ trong rừng sâu đến thay nhau bảo vệ ngài. Bạch hổ ở đâu thì không loài thú nào dám lảng vảng rình mò và quấy phá ngài.

        Nhờ nhân duyên lành của nhiều đời trước còn giữ trong tiềm thức cho đến này, mặc dù đời này hai chúng tôi sinh ra hai nơi khác nhau, nhưng gặp nhau trên một không gian xa lạ ở Hoa Kỳ, đặc biệt là ở Orange County. Vì thế, Tôi với thầy Quảng Thanh gặp nhau và thương nhau như hai người bạn của ngày xưa. Lúc này, thầy Quảng Thanh tạo dựng ngôi Chùa Bảo Quang ở thành phố Santa Ana, còn tôi thì xây dựng ngôi Chùa Liên Hoa ở Garden Grove. Thỉnh thoảng tôi tới thăm ngôi Chùa Bảo Quang, tôi vẫn thấy ông bạn Dương Thanh Tùng, tức Thầy Quảng Thanh cũng hăng say làm việc như thời xa xưa, nhờ đó chúng tôi dễ dàng qua lại để hàn huyên tâm sự.

Từ đó, tình yêu thương, sự hiểu biết, cả những suy nghĩ và lập trường của chúng tôi đều giống nhau và thường san sẻ ngọt bùi cho nhau. Do vậy, trong lúc tôi ngồi thiền, tôi nhận thấy Thầy Quảng Thanh là người bạn chân tình của mình trong nhiều kiếp xa xưa. Những cử chỉ và cách nói năng của Thầy trong đời này không khác đời trước. Tình thương của thầy tràn đầy bao la như xưa. Thầy luôn mở rộng lòng yêu thương giúp đỡ những người vô gia cư với tâm không hề mệt mỏi và không hề than vãn. Dù gặp những ngày mưa sa, nắng táp, hoặc đôi lúc thầy bị cảm bệnh, nhưng thầy vẫn cố gắng đi làm những bưa cơm từ thiện cho những người không nhà.

Kính thưa Quý vị, không còn bao lâu nữa, chúng ta sẽ tiễn đưa Hòa Thượng Quảng Thanh về Cố Hương nơi Miền Tây Phương, Tịnh Cảnh, nơi ấy không còn những cảnh sinh, già, bệnh, chết, và khổ đau, và nơi ấy có cuộc sống hằng hữu, cách trái đất này khoảng nhiều chục năm ánh sáng. Mặc dù xa vời vợi, nhưng ngài sẽ nương vào Pháp Thân của Đức Phật A-Di-Đà mà chỉ đi chỉ một khoảnh khắc, một sát na thôi mà thôi, bởi vì Pháp Thân Phật là bản thể của Vũ trụ. Giờ đây, trong giây phút trang nghiêm này, kính xin tất cả quý vị hãy nhất tâm niệm danh hiệu của Đức Phật A-Di-Dà để tiễn đưa Cố Hòa Thượng Quảng Thanh đi vào Cõi Tịnh bình an.

 

Nam Mô Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật.

 

 

 ht quang thanh 8

 

The Dharma Words of the Most Venerable Thero Thích Chơn Thành

By Venerable Thích Trừng Sỹ

Dear the Most Venerable Elders, Senior Venerable, Venerable Monks and Nuns, along with distinguished Guests, Dharma Sisters and Brothers, 

One day, a journalist Đoàn Trọng of Little Saigon Station asked me: “I have known the Most Venerable and the Most Venerable Thích Quảng Thanh for a long time in the Community activities, but recently, what the two Venerable Monks also share together, solve together, it is really the mind with the mind, why so, respectfully Venerable Master”?

I smile and calmly respond, anciently and now, the Buddha has often taught his disciples about the law of cause and effect. The past is the bud, the fertilizer, and water. Today is the young bud, the beautiful flowers and sweet fruits. The Buddha’s teachings are so simple. With many different conditions, when seeing the effect, people know the cause, when seeing the cause, then they understand the effect.   

Likewise, in previous life, the Master Quảng Thanh and I were born in the same hamlet and village, two of us met everyday, went out together, and knew each other better than siblings. The two of us from when young until twenty joined each other to leave secular life for monastic life to become Buddhist Monks and live in the same Temple. Because of this, our Dharma brothers share all the Buddhist affairs in the temple. Therefore, I know a lot about this Master.    

        At the present life, we were born from two different spaces and time, I was born in Phú Yên Province, the Master Quảng Thanh was born in Phan Thiết City of Bình Thuận Province, but growing up, both of us lived and cultivated in the two various Temples in Trà Cú mountain, away 18 kilometers from Phan Thiết City. This was the Holy Land of Vietnamese Buddhism many hundreds of years ago, founded by Patriarch Hữu Đức from Phú Yên Province coming there to cultivate. He sat in meditation in a small cave of half a bedroom today, and he attained enlightenment.               

        Everyday life, he only used vegetables and fruits picked by gibbons and monkeys to bring them to make offerings to him. On the mouth of the cave, there were two White Tigers coming from the deep forest to take turns to protect him. Where the White Tigers lived, there no animal would dare to snoop and disturb him.

Thanks to the good causes of many previous lives that remained in the subconscious until now, even though at the present life, we were born in two different places, we met each other on an unfamiliar space in the United States, especially in Orange County. Therefore, the Master Quảng Thanh and I met and loved each other like two friends of the past. At that time, he built the Bao Quang Temple in Santa Ana City, and I built the Lien Hoa Temple in Garden Grove. Sometimes when I visited the Bao Quang Temple, I still found my friend Dương Thanh Tùng, that is, the Master Quảng Thanh enthusiastically working as in the old days so that we could easily go back and forth to exchange confidences.

Since then, our love, our understanding, our thoughts, and stance were all the same and often shared each other’s sweetness. Therefore, when I sat in meditation, I recognized the Master Quảng Thanh was my sincere friend in many past lives. His gestures and ways of speaking in this life are not different from the previous life. His love is full of immense as before. He always opens his love to help homeless people, but his mind is not tired and does not complain at all. With his mind that is not tired and does not complain at all. Despite meeting rainy and sunny days, or sometimes he got sick, but he still tried to do charity meals for the homeless.

Dear Venerable Monastics, Dharma Sisters, and Brothers, there is no longer any more time, we will see off the Most Venerable Master Quảng Thanh to the native land, Western and Pure Land, where there are no birth, old age, sickness, death, and suffering, and there is a life of eternity, about many light years from this earth. Although it is very far away, he will rely on the Dharma Body of the Amitabha Buddha for only a moment, just a moment, because the Buddha’s Dharma Body is the essence of the Universe. Now, in this dignified moments, please wholeheartedly recite the names of Amitabha Buddha in order to see off to the Late Most Venerable Quảng Thanh into the Pure Land peacefully.

Namo the Amitabha Buddha

English version: Thich Trung Sy


 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
20/04/201219:40(Xem: 3392)
Hòa thượng Thích Thiên Ân, thế danh Đoàn Văn An, sinh ngày 22 tháng 9 năm Ất Sửu 1925, tại làng An Truyền, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên. Thân phụ của Ngài là Đoàn Mễ, sau xuất gia là Thượng tọa Thích Tiêu Diêu một bậc tử đạo Vị pháp thiêu thân, thân mẫu là một tín nữ chuyên lo công quả ở chùa Báo Quốc và tu viện Quảng Hương Già Lam, Ngài là con trai thứ trong một gia đình có 4 anh em. Ngài xuất thân trong một gia đình thế gia vọng tộc, có truyền thống kính tin Phật pháp lâu đời. Nhờ duyên gần gũi Tam bảo từ thuở nhỏ, Ngài đã sớm mến cảnh thiền môn với tiếng kệ câu kinh, nên năm lên 10 tuổi (1935), Ngài theo bước phụ thân xin xuất gia đầu Phật tại chùa Báo Quốc, làm đệ tử của Hòa thượng Phước Hậu, được Bổn sư ban pháp danh là Thiên Ân, Ngài tinh tấn chấp tác, học tập thiền môn qui tắc, hầu cận sư trưởng. Năm Tân Tỵ 1941, khi được 16 tuổi, Ngài được Bổn sư cho thọ giới Sa di tại giới đàn chùa Quốc Ân – Huế, do Hòa thượng Đắc Quang làm Đường đầu truyền giới.
10/06/201221:03(Xem: 6765)
Cố Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Trí Chơn, thế danh Trương Xuân Bình, sinh ngày 20 tháng 11 năm 1933 (Quý Dậu) tại Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận, Việt Nam, là con thứ sáu trong một gia đình mười hai anh chị em. Thân sinh của Cố Trưởng Lão Hoà Thượng là cụ Trương Xuân Quảng, mất năm 1945, nguyên quán làng Kim Thành, quận Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, làm quan dưới thời Pháp thuộc, được bổ nhậm chức Kiểm Học (tương đương với Trưởng Ty Nha Học Chánh dưới thời các chính phủ quốc gia sau này) tỉnh Bình Thuận năm 1933 – 1939, và Đốc Học tỉnh Quảng Ngãi năm 1940 – 1945. Nhờ túc duyên với Phật Pháp, nên đến năm 1950, Cố Trưởng Lão Hoà Thượng đến Chù
20/10/201003:37(Xem: 969)
Tiểu sử Hòa thượng Thích Trừng San (1922-1991) Giám sự Phật Học Viện Hải Đức Nha Trang
04/08/201220:26(Xem: 1490)
Sư họ LA húy DŨ hiệu DUY LỰC, tự GIÁC KHAI, sanh ngày 05 tháng 05 năm 1923 tại làng Long Tuyền, huyện Bình Thủy tỉnh Cần Thơ, Việt Nam. Cha La Xương và mẹ Lưu Thị, làm nghề nông. Năm lên 7 tuổi, theo cha về quê sống tại làng Long Yên, huyện Phong Thuận phủ Triều Châu tỉnh Quảng Đông Trung Quốc. Sau khi tốt nghiệp phổ thông cấp 1, thì Sư phải nghỉ học theo cha trở lại Việt Nam sinh sống, lúc đó Sư được 16 tuổi (1938). Trú tại tỉnh Cần Thơ. Sư thường tranh thủ tự học trong lúc rỗi rảnh. Đến năm 26 tuổi (1948), thi đậu bằng giáo viên Hoa văn, từng cộng tác biên soạn cho tờ báo Viễn Đông tiếng Hoa tại Chợ Lớn và được mời dạy ở các trường tiểu học tỉnh Tà-Keo Cao Miên (Nay là Campuchia), trường Khải Trí ở Cần Thơ, Trường Cái Vồn ở Vĩnh Long trong thời gian 10 năm. Năm 1958, sau khi thi lấy bằng Đông y sĩ cấp 1, Sư được mời làm đông y sĩ cho tiệm thuốc Tế Ngươn Đường Cà mau, Minh Nguyệt Cư Sĩ Lâm tỉnh Cần Thơ để khám bệnh miễn phí cho dân trong thời gian 8 năm. Trong tủ sách của Cư Sĩ L
09/04/201318:52(Xem: 8805)
Xuất thân trong một gia đình gia giáo có thân phụ là Chánh Tổng nên Hòa Thượng đã sớm hấp thụ Nho học và Tây học từ thuở ấu niên. Vì thế, Hòa Thượng đã thông thạo cả Hán văn lẫn Pháp văn, kết hợp và dung hòa được cả hai truyền thống văn hóa Đông – Tây.
09/04/201318:53(Xem: 3126)
Đại lão hòa thượng Thích Trí Nhãn thế danh là Đoàn Thảo, pháp danh Như Truyện, tự Giải Lệ, hiệu Thích Trí Nhãn. Ngài sinh ngày 10 tháng giêng năm Kỷ Dậu tức vào năm 1909 dương lịch, tại xứ Đồng Nà, tổng Phú Triêm Hạ, Xã Thanh Hà, nay thuộc thôn Đồng Nà, xã Cẩm Hà, Thị Xã Hội An.
24/11/201010:41(Xem: 2485)
Tiểu sử nhà văn Quách Tấn
01/07/201419:41(Xem: 3469)
Ni sư Thích nữ Hải Triều Hạnh, Pháp Hiệu Hoằng Hạnh, Tự Liễu Như, thế danh Trần Duy Hạnh. Sinh năm Ất Mùi 1955 tại Gia Định sài gòn. Ni Sư sinh trưởng trong 1 gia đình gia giáo. Thân phụ là cụ ông Trần Duy Ninh PD: Hoằng Ninh, vốn là em kết nghĩa của Thầy Hải Triều Âm là một y sĩ cùng làm chung một sở y tế với Thầy, khi Thầy chưa xuất gia cụ ông luôn theo Thầy làm trưởng đoàn công tác từ thiện xã hội và Thân Mẫu là Cụ Bà Nguyễn thị Hoa Truật, pháp danh Mỹ Dung, sau Hòa Thượng Pháp Chủ đổi tên là Cát Tường vốn là vị hộ pháp thân tín trong thời gian Thầy xuất gia, nhập thất và suốt chặng đường hoằng Pháp của Thầy.
03/08/201403:32(Xem: 1752)
Lễ nhập quan được cử hành tại Bình Quang Ni tự vào lúc 18g00 cùng ngày. Lễ phúng viếng bắt đầu từ 8g00 ngày 9-7 Giáp Ngọ (4-8-2014). Lễ truy niệm được cử hành vào lúc 4g00 sáng nay, 12-7 Giáp Ngọ (7-8-2014); lễ phụng tống kim quan vào lúc 6g00 sáng cùng ngày. Nhục thân cố Ni trưởng tới đài hỏa táng núi Dinh, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu làm lễ trà-tỳ. Tro cốt của Ni trưởng sẽ được nhập bảo tháp tại Bình Quang Ni tự. Được biết, cố NT.Thích nữ Huyền Tông thế danh Dương Thị Ngọc Cúc, sinh năm 1918 tại P.Đức Thắng, TP.Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận. Vì sớm giác ngộ lý vô thường, nên năm 17 tuổi (1936), Ni trưởng cùng người cô của mình là cố Ni trưởng Huyền Học quyết tâm vào Sài Gòn xuất gia với cố Ni trưởng Diệu Tịnh tại chùa Hải Ấn. Đến năm 1940, Ni trưởng được thọ giới Cụ túc tại Giới đàn chùa Vạn An (tỉnh Sa Đéc). Suốt hơn 2/3 thế kỷ tu học và hành đạo, Ni trưởng đã tham gia vào phong trào đấu tranh yêu nước trong cuộc kháng chiến chống Pháp năm 1945, đấu tranh đòi quyền bình đẳng tô
01/06/201707:24(Xem: 2222)
Sư Trưởng pháp húy Hải Triều Âm, tự Đại Thành, hiệu Bác Tế Từ Hòa, thế danh Nguyễn Thị Ni, sinh năm 1920 tại tỉnh Hà Đông, nay thuộc thủ đô Hà Nội. Thân phụ là một công chức người Pháp, cụ ông Etienne Catallan. Thân mẫu là một y sĩ người Việt, cụ bà Nguyễn Thị Đắc. Vì thế Sư Trưởng còn có tên thế tục tiếng Pháp là Eugénie Catallan.