Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Tham Luận về Cư Sĩ Chánh Trí Mai Thọ Truyền

23/04/201907:54(Xem: 1704)
Tham Luận về Cư Sĩ Chánh Trí Mai Thọ Truyền

Chanh Tri Mai Tho Truyen

Tham Luận :
CƯ SĨ CHÁNH TRÍ – MAI THỌ TRUYỀN
NHỮNG THUẬN & NGHỊCH CHỐN TRẦN DUYÊN

 

 

Cụ Chánh Trí – Mai Thọ Truyền ( Cụ - Cụ Chánh Trí ) sinh năm Ất Tỵ ( 1905 – 1973  ) , tại làng Long Mỹ , nay thuộc huyện Giồng Trôm tỉnh Bến Tre.Ngày Cụ sinh ra, chỉ chưa đầy  30 năm trước đó thôi, triều đình nhà Nguyễn đã ký hòa ước Nhâm Tuất , nhường  sáu  tỉnh Miền Nam  ( Thường được quen gọi là “Nam Kỳ Lục Tỉnh” ) cho thực dân Pháp, trong đó có quê hương Bến Tre của Cụ. Suốt cả quảng đời  từ sơ học đến  tiểu học, Cụ  được học hành   đầy đủ theo chương trình giáo dục hiện thời. Có lẽ, với sở học và trí phán đoán  nhậy bén của mình, Cụ Chánh Trí không khỏi chạnh lòng  khi liên tưởng các diễn biến lịch sử trên nơi mình sinh ra, để khi có điều kiện, lên tận Sài gòn tiếp tục chương trình học, lòng yêu  quê hương  bản sở vẫn được mang theo và dưỡng nuôi lớn lên theo từng bước trưởng thành. Theo nhiều ý kiến cho rằng đó thể xem đó  là bước thuận duyên đầu tiên của Cụ Chánh Trí .(1)

Được bổ nhiệm, làm việc nhiều cấp  hành chính  ở nhiều địa phương  khác nhau. Nhưng mối ưu tư cho dân tộc, và sau đó nữa là Đạo pháp thì chỉ có một, trở nên  một trách nhiệm to lớn luôn  nặng trĩu trong lòng. Cho nên, trên bước đường quan lộ đó,  khi  lần đầu tiên tiếp xúc với vị ân sư  khả kính trong đời, Hòa thượng Thích Hành Trụ ( 1904 – 1984 ), túc duyên  bao đời trong Cụ Chánh Trí như bừng sáng hẳn. Để từ đây  những trang đời mới trên đôi vai của người Cư Sĩ tài ba lỗi lạc này có thêm những trách nhiệm lớn lao  và có ý nghĩa to lớn vô cùng  cho Đạo pháp mà hôm nay, dưới mái chùa này, chúng ta  được dịp vân tập đầy đủ,  góp  chung tiếng nói tán dương  và tri ân  Cụ .

                                Như đã nói, là một quan chức  nhiều cấp, trong quá trình dấn thân  từng trải, hơn ai hết Cụ Chánh Trí hẳn  đã biết và đã thấy  một bối cảnh “Khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, biết được sức mạnh và ảnh hưởng vô cùng to lớn của Phật giáo đới với quần chúng nhân dân, chúng đã thằng tay đàn áp Phật giáo, tăng –ni, tàn phá chùa chiền, nghi lễ Phật giáo bị ngăn cấm. Điều này cũng nằm trong kế hoạch thâm độc của chúng nhằm xóa bỏ văn hóa, phong tục, tập quán, cũng như  tôn giáo truyền thống của người Việt Nam. Mặt khác chúng cũng lo sợ nhân dân thông qua Phật giáo để chống lại chúng.Thế nên vừa tìm  cách đồng hóa bằng việc thay thế dần văn hóa và lối sống phương Tây, đồng thời thực dân Pháp cũng ra sức truyền bá đạo Công Giáo. Có thể nói chưa khi nào Phật giáo Việt Nam lại đứng trước tình thế cấp bách như vậy, đòi hòi phải có sự chấn chỉnh về mặt tổ chức, để tập hợp, đoàn kết Tăng-ni Phật tử cùng chéo chống “con thuyền “ Phật giáo trong phong ba bão táp, vì thế có nhiều người tâm huyết, nhất là các vị cao tăng đã nhất tâm củng cố Phật giáo.

Một lý do nữa khiến Phật giáo được củng cố và phát triển ở Việt nam , vào những năm đầu thế kỷ XX  là do tình hình Phật giáo trên thế giới  đã có những thay đổi lớn, đặc biệt ở Trung Quốc và Nhật Bản…”(2)

Khi Cụ Chánh Trí  đang  bước đi những bước mang tính chất  biến đổi  cuộc đời trong lối đạo , gắn liền các hoạt động của mình  song hành trong cuộc sống, thì nền tảng  của cuộc Chấn Hưng Phật Giáo rực rở đã được  khai lồi. Những  kết quả tích cực từ đó  tạo nên nhiều thành quả trong các mặt mở các trường  Gia Giáo, Phật Học, đào tạo tăng tài và tiếp theo sau đó là việc hình thành nên tổ chức  mang tính tập hợp đầu tiên  đó là Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam, dù rằng, theo Wikipedia  “Tổng Hội Phật giáo Việt nam là một tổ chức được quy tụ các đoàn thể Phật giáo Đại Thừa tại Việt nam khắp ba miền Nam- Trung – Bắc thời chiến tranh Đông Dương. Tổng Hội  hình thành vào năm 1951 với mục đích tạo tiếng nói chung cho Phật giáo, nhưng về mặt tổ chức thì Tổng Hội  không có cơ chế hoạt động”. Trong bối cảnh chung đó, ở miền Nam, đặc biệt Sài gòn,  Giáo Hội Tăng Già Nam Việt cũng được hình thành. Với tầm vóc và vị thế hoạt động , từ năm 1953 các cơ sở vật chất của Giáo Hội này cũng đã được xây dựng và triển khai rộng khắp  các tỉnh Nam Việt. Ngày 8/3/1953  công khai mở kỳ Đại Hội đầu tiên ( 3).


 Vì thế, khi   đã có Tổng hội và Giáo Hội Tăng Già Nam Việt, Hội Phật Học Nam Việt (HPHNV), được chu tôn Hòa thượng khả kính ủng hộ thành lập, đóng vai trò rất quan trọng vào thời điểm này vì  ý nghĩa hoạt động của Hội  rất rộng  không chỉ hướng đến tầng lớp Tăng – Ni xuất gia mà còn bao quát đến các tầng lớp cư sĩ Phật tử tại gia cũng như  từng bước  dọn đường cho nhiều dự tính  khác. Đảm nhiệm chức vị Hội trưởng đầu tiên là cư sĩ, bác sĩ  Nguyễn Văn Khỏe, một  trong những trụ cột  của Hội lưỡng Xuyên Phật Học,Cụ Chánh Trí  giữ chức vị Tổng Thư Ký. Trong tuyên cáo  thành lập ban đầu có nói đến  nguyện vọng thống nhất các đoàn thể  Phật giáo trong nước. Bản tuyên cáo viết : “Đề xướng việc thành lập Hội Phật học này.Chúng tôi còn có thâm ý đi đến chỗ Bắc Trung Nam sẽ bắt tay  trên nguyên tắc cũng như trong hành động. Sự thống nhất này đã trở nên cần thiết kể từ ngày mùng tám tháng sáu dương lịch năm nay, là ngày  Việt Nam được làm hội viên Phật giáo quốc tế..”(3). Với nguyện vọng to lớn và tích cực  như thế, và để nương thừa oai đức, giúp hỗ trợ cho năng lượng thành công, bước tiếp theo, năm Nhâm Thìn ( 1952 ) Cụ Chánh Trí cung thỉnh  Hòa thượng Quảng Minh vào ngôi vị Hội trưởng. Năm Ất Mùi ( 1955) Hòa Thượng Quảng Minh  phải sang Nhật Bản du học, Cụ Chánh Trí  nhận lấy trách nhiệm Hội Trưởng cho đến khi tạ thế năm Quý Sửu (1973). Cũng cần  nhắc thêm,  trong bản tuyên cáo thành lập HPHNV trên Hội  cũng có tâm nguyện muốn thành lập một Phật Học Đường  lớn để đào tạo tăng tài, nhưng  chưa thực hiện được  hoài bảo ấy, có lẽ  vì bên cạnh  Hội Phật Học Nam Việt đã có Phật Học Đường Nam Việt đã được thành lập trước đó và đã đi vào  hoạt động  chuyên trách khá ổn định.


hoi thao ve chanh tri


hoi thao-chanh tri (4)hoi thao-chanh tri (3)hoi thao-chanh tri (2)hoi thao-chanh tri (1)

Còn lại, chính nhờ quy tụ nhiều tầng lớp cư sĩ  Phật tử tại gia, HPHNV đã nhanh chóng phát triển  đến hầu hết các tỉnh thành  không chỉ riêng Miền Nam và Sài gòn với hơn 40 tỉnh Hội và Chi Hội.Điều này cho thấy ý nghĩa to lớn và lợi ích của hàng tứ chúng  mà xưa kia Đức Thế Tôn từng di huấn. Nếu  Tồng Hội và Giáo Hội Tăng Già Nam Việt chịu trách nhiệm  gánh vác và bảo bọc  hành trình tu học của Tăng- Ni và lo việc đối ngoại khả dĩ, thì HPHNV nhận lấy trách nhiệm  phát triển, hướng dẫn tầng lớp Cư sĩ Phật Tử  tu học  cũng như sinh hoạt theo đúng chánh pháp.Tạp chí Từ Quang , cơ quan ngôn luận và hoằng pháp  của HPHNV do chính Cụ Chánh Trí sáng lập và trực tiếp chăm nom từ năm 1951,có số lượng ấn bản thường xuyên, ổn định  tới 242 số cho đến ngày cụ  tạ thế. Tạp chí Từ Quang đã là một đóng góp không nhỏ trong việc phổi biến Phật học ở sài gòn và các tỉnh. Tạp chí này cũng đã được chư tăng ở Phật Học Đường Nam Việt nâng đỡ và đóng góp khá nhiều về phượng diện biên tập, nhất là trong những năm đầu (3). Tạp Chí từ Quang sau đó đã   tự ngưng  hẳn dòng chày sinh tồn của mình trong  nền tàng  hoằng pháp, văn hóa  và nghị luận chung của Phật giáo, nhất là sau  năm 1975 cùng chung số phận trong  hoàn cảnh  khách quan hết sức khó khăn. Tuy nhiên, khi đều kiện  thuận duyên, và để nối kết truyền thống cũng như lịch sử của tạp Chí Từ Quang của HPHNV, Thượng tọa Thích Đồng Bổn  đã đích thần đứng ra khôi phục dòng chày  tự hào của tạp chí Từ Quang được tiếp tục. Số đầu tiên tái bản  được ra mắt vào tháng 4 năm 2011, mỗi năm  bốn số theo định kỳ, cho đến  hôm nay ( 2019 ) đã được 7 năm với 27 số trên văn đàn và thông tin, nghị luận.

Theo tìm hiểu riêng và quan sát chính ngôi chùa người viết bài này  từng  sinh hoạt và trưởng thành , khi Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất  được hình thành,  phần lớn các  trụ sở Chi Hội PHNV  và các nơi thờ tự, sinh hoạt tu học trực thuộc, đều được hiến cúng cho Giáo Hội  để tạo bước đệm vững chắc ban đầu cho các mặt Phật sự của Giáo Hội được hanh thông. Đây chính là những nét son đẹp trong trang sử vàng của Phật giáo Việt nam Hội Phật Học Nam Việt đã tự mình viết lên bằng chính tâm tư, nguyện vọng cao đẹp của mình đối với nền đạo pháp nước nhà thời còn chiến tranh  ly tán.

                                   Những đóng góp của HPHNV cho sự nghiệp  hoằng pháp chung của Phật giáo Việt nam đã đành, nhưng còn trên bình diện trực tiếp tham gia , ủng hộ  các phong trào  xã hội, đặc biệt công cuộc đấu tranh đòi quyền bình đẳng tôn giáo  trước  ách kỳ thị độc tài của Ngô Đình Diệm năm Quý Mão ( 1963) mà ngôi chùa Xá Lợi, ngôi chùa thứ ba vĩnh viễn của Hội sau chùa  Khánh Hưng và Phước Hòa, đã đi vào lịch sử (4) . Là trung tâm  phía Nam điều phối các hoạt động  đấu tranh bất bạo dộng thời bấy giờ, và là trụ sở của Ủy ban Liên Phái Bào vệ  Phật Giáo do chính Cụ Cháng Trí  làm Chánh Thư ký . Chùa Xá Lợi cũng là tâm điểm  mấu chốt của chiến dịch “Nước Lũ “( Bravo ) nhằm tiêu diệt các  vị lãnh đạo  Phật giáo trong đềm tổng lực  tấn công  hấu hết các ngôi chùa  đêm 20/8/1963. Trước đó, ngay trong những năm đầu vừa thành lập  Hội PHNV, năm  Nhâm Thìn ( 1952), Cụ Chánh Trí và HPHNV đã làm nên một Phật sự vô cùng quan trọng, gây được tiếng vang khắp toàn quốc. Đó là lễ rước ngọc Xá Lợi tại sài gòn  vào ngày 13.9. Nhân khi phái đoàn  Phật giáo Tích lam đi dự Đại hội Phật giáo thế giới kỳ II tại Tokyo, có mang theo một viên ngọc xá Lợi để tặng Nhật Bản . trên đường đi, phái đoàn quá cảnh tại Sài gòn  24 tiếng đồng hồ. Cuộc rước ngọc Xá lợi đã được đông đào tăng Ni, Phật tử và đồng bào thành phố và các tỉnh lân cận tham dự để chiêm bái Xá lợi Phật đầu tiên đến Việt Nam (5).

                                 Cũng tại ngôi chùa lịch sử này , ngày 31.12.1963, tất cả mười ba hệ phái Phật giáo  được vân tập  tại đây,  soạn thảo và viết lên những dòng đầu tiên  của Hiến Chương . mở ra trang sử mới cho PGVN trong việc  hình thành Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất. HPHNV do Cụ Chánh Trí đại diện đồng ký tên  cho  sự kiện trọng đại này.

                                 Tháng 1/1964 GHPGVNTN được thành lập, Cụ Chánh Trí với tài năng , đức độ và những thành quả của mình, được mời giữ chức Phó Viện Trưởng Viện Hóa Đạo. Đồng thời, thời gian đó Cụ Chánh Trí cũng được mời tham gia Hội Đồng Nhân Sĩ của chính phủ Dương Văn Minh. Một thời gian ngắn sau đó  Cụchính thức xin thôi  chức Phó Viện trưởng Viện Hóa Đạo, trở lại  trực tiếp  chăm lo HPHNV, mặc dù sau đó, khi Viện Đại học Vạn Hạnh được thành lập, chùa Xá Lợi là vặn phòng  tạm đặt tại đây trong khi chờ cơ sở dang được xây dựng. Cụ Chánh Trí  lại đứng ra  nhận chức phụ tá Viện Trưởng đặc trách hành chánh và tài chánh, kiêm Tổng thư ký niên khóa 1967 – 19 68 (5). Điều này chứng tỏ uy tín và kinh nghiệm của Cụ Chánh Trí luôn được trọng dụng.

 Lý do Cụ Chánh Trí rút khỏi chức vụ Phó Viện Trưởng Viện Hóa Đạo chúng ta thường được nghe nhiều là  “Do bất đồng ý kiến về mặt tổ chức“, ngoài ra chưa được biết thêm lý do nào khác. Cũng có thể  được cho là như vậy vì tuy GHPGVNTN được thành lập dựa trên  các văn kiện pháp lý và cơ cấu tổ chức chặt chẻ và với  một  Hiến Chương rỏ ràng  nhưng  vẫn còn nhiều  điều cần bổ sung tiếp theo để hoàn chỉnh trọn vẹn hơn. Vế mặt thế sự, Cụ Chánh Trí đã từng trải qua nhiều  chức vụ dưới  các chính phủ, tư duy  nhìn rõ bản chất từng sự kiện chính trường  có phần nhạy bén và sâu sắc; bên cạnh  về mặt đạo pháp Cụ Chánh Trí cũng có  bề dày dấn thân, tận dụng hầu hết  tâm tư của mình , từng bước gầy dựng nên nhiều thành quả đáng kể, điển hình là  hệ thống tổ chức của một HPHNV tương đối bề thế thời bấy giờ. Vào những năm đầu thập niên 90, khi  Thượng Tọa chủ biên Thích Đồng Bổn họp “Nhóm Biên Soạn” chuẩn bị  ra mắt tập I “Tiều Sử Danh Tăng Việt Nam”, người viết có tham dự  buổi họp này, cư sĩ Tống Hồ Cầm, một trong những  cây đại thụ của HPHNV khi đó có trả lời vài điểm về  bài viết tiểu sử  Cư sĩ Chánh Trí – Mai Thọ Truyền, có phần nói về lý do Cụ Chánh Trí  thôi giữ chức Phó Viện Trưởng Viện Hóa Đạo rằng  “ Một  người cư sĩ  rất khó, rất ngại  làm việc vì chung quanh là các vị xuất gia khả kính”. Như vậy chúng ta đã có thêm một lý do  khá xác tín nữa. Do đó hy vọng  rồi đây chúng ta sẽ được  biết thêm  lý do  thật sự của vụ việc này một cách rõ ràng hơn. Vì lẽ,  nếu ngày  đó không có  sự cản ngại nào xảy ra, hình ảnh một vị cư sĩ tài ba, lỗi lạc, ngồi làm việc chung với  giới xuất gia trong hàng ngũ lãnh đạo Phật giáo, thì không còn gì đẹp hơn  thế. Hình ảnh đó sẽ là cơ sở để  các thế hệ  Tăng – Ni  và cư sĩ Phật tử hậu tấn tự hào về  lịch sử PGVN của chính mình đến dường nào.

Nói đến Cụ Chánh Trí – Mai Thọ Truyền , cũnglà đồng thời nhắc đến HPHNV như một thể liên kết  không thể tách rời. Điều đó là hẳn nhiên, và vì đó đã là cơ sở tồn tại  theo thời gian  và ngự trị giữa  những dòng sử liệu của Phật giáo Việt Nam đầy tự hào lẫn khâm phục.Những bước đi để tồn tại giữa lòng đạo pháp và dân tộc, Những bước chân của Cụ Chánh Trí, một cư sĩ  Phật tử tiêu biểu, trong các mặt đối nội lẫn đối ngoại  luôn  năng động  không dừng nghỉ. Từ Hội Nghị văn Hóa Phật Giáo tại New Delhi ( Ấn Độ) năm 1956, đến Hội Nghị Văn Hóa Phật Giáo tại Tokyo Nhật Bàn ) nắm 1958, đến việc đàm đương chức vụ PCT Hội Liên Hữu Phật giáo Thế Giới , trong kỳ Đại Hội PGTG lần thứ VI tại Phnom Penh ( Campuchia), rời đến Hội Nghị Phật Giáo Thế Giới lần VII tại Benarès ( Ấn Độ) năm 1964…

                                  Trên là khái lược những thành tựu Cụ Chánh Trí đã  làm và để lại cho  Phật giáo nói chung , HPHNV nói riêng, theo nhận định riêng của người viết, còn những  gì ngoài mặt bằng xã hội, lịch sử  nơi ấy sẽ làm nhiệm vụ nói thay chúng ta, bài viết có hạn định này  không thể dung tải hết tròn vẹn. Chỉ xin làm dấu kết nơi đây bằng  một  kỷ niệm nhỏ mà nơi đó, dường như chính người viết  cũng đã từng  có phần can dự, chịu ảnh hưởng  công ơn  của Cụ Chánh Trí . Đó là từ thưở còn độ tuổi Oanh Vũ cho đến lúc trưởng thành lớn lên, tôi đã trải qua  hai đơn vị sinh hoạt Gia Đình Phật Tử , tất cả đều có chữ đầu là CHÁNH. Sau này khi có điều kiện tìm hiểu thêm  mới biết  đó là xuất phát  bởi Pháp danh của Cụ Chánh Trí mà bên cạnh , gần nơi  sinh hoạt ấy lại chính là nơi trú xứ của Hòa Thượng  Thích Hành Trụ  ( 1904 – 1984 ) - người đã  ban Pháp danh này cho cụ  ngày trước! Vậy nên  trong rất nhiều thành công , hoạt động tổ chức, Cụ Chánh Trí đã không quên gầy dựng và  chăm lo cho sự phát triển của  tổ chức gia Đình Phật Tử trực thuộc  một cách  hệ thống và rộng khắp. Nhớ những lúc trên đường đến chùa sinh hoạt, thấy vị thị già chở  hòa thương  Thích Hành Trụ đi họp ( Viện Tăng Thống) anh em chúng tôi dừng lại bên đường , đứng nghiêm trang chắp tay xá chào, Ngài nở nụ cười đáp lại hiền từ. Nụ cười đó nhiều khi tôi liên tưởng đó cũng chính là nụ cười viên mãn của Cụ Chánh Trí – Mai Thọ Truyền ngày Cụ an bình  nằm xuôi tay nhắm mắt .

 

 

 

Dương Kinh Thành

 (Trung Tâm Nghiên Cứu Phật giào Việt Nam )

 

  

 

 

 

 Chú thích :

1)      Khí nắm  quyền cai trị  sáu tỉnh Nam Kỳ, Pháp lập ra cơ quan quyền lực cao nhất  cho Nam Kỳ nói chung và Bến Tre nói riêng, cao nhất  là Phủ Nam Kỳ. Tiếp đến phân chia ra bớn khu vực hành chánh gồm Sài gòn, Mỹ Tho, Vĩnh Long và Bát Xắc. Dưới bốn khu vực này còn có những tiểu khu trực thuộc, Bến Tre khi ấy nằm trong tiểu khu Vĩnh Long. ( Theo tài liệu : “Bến tre dưới sự thống trịc của Pháp”- Cổng thông tin điện tử tình Bến Tre ). Vì vậy hệ thống giáo dục trực thuộc  và liên đới nhau cũng  nối liền xuyên suốt. Cho nên  việc Cụ Chánh Trí lên Sài gòn học và thành đạt tại đây  cũng là chuyện bình thường.

2)      Trích “Vài nét về Phật giáo Việt Nam trước ngày thành lập” Phúc Nguyên – Cổng thông tin Ban Tôn Giáo Chính Phủ.

3)      Theo “Việt nam Phật Giáo Sử Luận “.Nguyễn Lang. NXB Văn Học , Hà Nội 1992.

4)      Chùa Xá Lợi  được khởi công xây dựng ngày 5/8/1956 theo bản vẽ của hai KTS Trần Văn Đường  , Nguyễn Bá Vinh. Công trường xây dựng  trực tiếp do hai KTS Dư Ngọc Ánh và Hồ Tấn Thuận  phụ trách. Chùa được hoàn thành vào ngày 2/5/1958. Chùa được thờ Xá Lợi Phật nên dân gian quen gọi “Chùa xá Lợi”.  Hòa Thượng Khánh Anh( 1859 – 1961 ) nương theo đó tùy thuận đặt tên “ Chùa Xá Lợi” . Theo Wikipedia.

5)      Theo “Tiều sử Danh tăng Việt Nam Thế kỷ XX- tập I. Thích Đồng Bổn chủ biện. NXB Tôn Giáo 2017.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
01/07/201707:30(Xem: 10041)
Cư Sĩ Long Quân Hồ Công Lộ là một Phật tử thuần thành, có công hộ trì Phật Pháp từ đầu thập niên 60 tại quê hương Việt Nam và đến Úc định cư đầu thập niên 80, làm Chủ Bút Tuần Báo Nhân Quyền tại tiểu bang Victoria, ông từng là một Luật Sư, một nhà báo có tâm với quê hương Việt Nam và nền văn hóa Việt Nam tại Hải Ngoại, ông đã có những đóng góp thiết thực cho sự lớn mạnh của Cộng Đồng Người Việt Tự Do tại Úc Châu. Thành tâm kính thỉnh Chư Tôn Thiền Đức Tăng Ni và quý Đồng Hương Phật tử góp lời cầu nguyện, niệm Phật tiếp dẫn Cư Sĩ Tâm Phước Hồ Công Lộ sớm vãng sanh Cực Lạc Quốc.
21/10/201004:19(Xem: 3145)
Trong cõi nhân gian mịt mù tăm tối vì vô minh và phiền não, sự xuất hiện của một bậc chân tu đạo hạnh để dìu dắt con người trên đường tìm về giác ngộ và giải thoát, quả thật không khác gì một vì sao sáng trên bầu trời làm định hướng cho lữ hành trong đêm tối. Trong ý nghĩa này, Cố Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Trí Chơn là một vì tinh tú sáng rực.
01/10/201209:18(Xem: 1953)
Kính bạch Giác Linh Đức Thầy, Dẫu biết rằng: “Cuộc đời là ảo mộng, vạn vật vốn vô thường, chuyển di không ngừng nghỉ, biến diệt lẽ tự nhiên, tử sanh không tránh khỏi.” Nhưng ân đức cao dày, tình thương nồng thắm, Đức Thầy đã ban cho hàng đệ tử chúng con, chẳng những được kết thành giới thân huệ mạng, mà còn mang lại cho cuộc đời giải thoát của chúng con vô vàn hạnh phúc… Ân đức ấy, mãi mãi khắc sâu vào cuộc đời tu học của chúng con vô cùng vững chắc, dù cho thời gian, sự vô thường có thay đổi...
10/04/201311:05(Xem: 3605)
Hòa Thượng thế danh là Nguyễn Văn Kim, Pháp danh Như Kim, Pháp hiệu Bửu Chung, sinh năm Tân Tỵ (1881) Niên hiệu Tự Đức năm thứ 35, tại Rạch Cái Đầm, xã Hiệp Xương, huyện Tân Châu, tỉnh Long Xuyên (nay là An Giang). Thân phụ là cụ ông Chánh bái Nguyễn Văn Phước. Thân mẫu là cụ bà Lê Thị Dậu đều kính tin phụng thờ Tam Bảo.
22/09/201609:25(Xem: 3586)
Tiếng chuông đại hồng sớm hôm ngân nga đồng vọng giữa núi rừng trùng điệp Bà Nà kia , thức tỉnh du khách nhoài người thức dậy trong sương sớm trên núi cao, ngồi bên tách trà nhìn về Đà Nẵng, nhìn bằng Tâm để thấy rằng con người bé nhỏ li ti như những con kiến kia đang lăng xăng hoạt động trong cõi đời này, dưới phố thị lao xao, để làm gì ? Và khi chết rồi sẽ đi về đâu ? Những nghi vấn bức thiết như thế nếu có được, cũng là từ âm thanh đồng vọng xa xăm trong nỗi nhớ của chiếc xe Hon Đa một thời leo núi, một thời dấn thân cho đời cho đạo, để cho thế đạo vững vàng không chênh vênh khúc khuỷu như nếp gấp của con đường leo núi Bà Nà.
10/03/201204:11(Xem: 3416)
Thời gian trôi nhanh như bóng câu qua cửa sổ! Mới hôm nào mà Hòathượng Thích Trí Thủ đã tiễn chân tôi ra sân bay đi Hà Nội để giảng cho trường Cao cấp Phật học tại chùa QuánSứ, mà bây giờ đã gần đến ngày giỗ đầu của Hòa Thượng.
10/04/201311:05(Xem: 3654)
Hòa thượng thuộc dòng Thiền Lâm Tế đời thứ 39, pháp danh Ngộ Đạo hiệu Từ Vân. Thế danh Đinh Công Thân, sinh năm Bính Dần (1866) Niên hiệu Tự Đức năm thứ 20, tại làng Định Yên, Lấp Vò, (nay là Đồng Tháp). Thân phụ là Cụ ông Đinh Công Thành và thân mẫu là cụ bà Lê Thị Hoài. Gia đình 7 anh em, Ngài thứ tư. Sinh trong gia đình trung lưu phúc hậu, theo truyền thống đạo Phật.
08/08/201318:44(Xem: 33278)
Cho mãi đến ngày hôm nay, 40 năm sau Cố Hòa Thượng Thích Quảng Đức, vị pháp thiêu thân (ngày 20/4 năm Quý Mão - 1963) bóng cây Bồ Đề của Ngài vẫn còn mát mẻ gội nhuần khắp cõi nhân gian, nhất là trong hàng Phật tử Việt Nam, trong nước cũng như ở hải ngoại. Kể cả người ngoại quốc, Âu, Mỹ khi nghe nói đến Việt Nam và Phật Giáo Việt Nam, ít nhiều gì họ cũng nhắc đến hình ảnh hy sinh bất khuất của Bồ Tát Thích Quảng Đức. Nhắc đến với một niềm kính phục, trân quý.
22/01/201507:17(Xem: 3909)
Phật giáo Việt Nam vào cuối thế kỷ 20, Thiền sư Duy Lực đã thắp sáng lại ngọn đèn thiền, tô đậm nét Tông chỉ Tổ Đạt Ma, khôi phục Tổ sư thiền Việt Nam, trải qua hơn 20 năm chuyên hoằng dương Tổ Sư Thiền (dạy tham thiền thoại đầu) ở Việt Nam và các nước trên thế giới. Ngài xuất gia tại Từ Ân Thiền Tự, Chợ Lớn, Sài Gòn, thọ giới Tam Đàn Cụ Túc tại Chùa Cực Lạc Malaysia vào Tháng 05 năm 1974. Từ đó Ngài chuyên tham câu thoại đầu “Khi chưa có trời đất ta là cái gì?” trải qua nhiều năm, một hôm do đọc quyển Trung Quán Luận đến câu: “Do có nghĩa Không nên thành tựu tất cả pháp” đốn ngộ ý chỉ “Từ Không Hiển Dụng”.
11/08/201102:30(Xem: 5113)
Tôi với Ni Sư không cùng chung một lớp nhưng lại chung một trường. Thành phố Huế chỉ lớn bằng bàn tay nên dù không quen cũng thành quen, chuyện lớn chuyện nhỏ gì của nhau rồi dần dà cũng biết cả, nhất là Ni Sư lại là một người học trò giỏi nữa. Thuở ấy Ni Sư là một nữ sinh Đồng Khánh áo trắng tóc thề, mắt sáng, da đã trắng mà má lại luôn luôn ửng hồng xinh xắn vô cùng, nên Tôn Nữ Hỷ Khương đã làm tặng Ni Sư mấy câu thơ như sau: