Người Thật Sự Đã Ra Đi

10/3/201820:07(View: 8250)
Người Thật Sự Đã Ra Đi

ni su nhu thuy

NGƯỜI 
THẬT SỰ ĐÃ RA ĐI

Thành kính tưởng niệm

Lễ Tiểu Tưởng Ni Trưởng Thích Nữ Như Thủy

  

 

Hôm nay tôi thức dậy sớm hơn thường lệ, lướt nhẹ ngang qua Chánh Điện, vầng đèn hào quang nơi  tượng Phật tỏa ánh sáng thanh tịnh, tôi thấy Phật mỉm cười, nụ cười thanh khiết bình yên như chưa từng biết cuộc đời nầy là nơi chốn của gió bão.

Tâm tư tôi đậm lại những kỷ niệm đã qua. Bên bờ rêu xanh của ký ức, tôi nhớ là gần đến ngày tưởng niệm một năm của Ni Trưởng Như Thủy. Sư Chị Tâm Chánh, Sư Chị Như Bảo và huynh đệ học Ni chúng tôi tại Hoa Kỳ sẽ tổ chức lễ tưởng niệm một năm của Ni Trưởng Như Thủy tại Chùa Huê Lâm, Boston vào  khóa tu học mùa Thu năm nay. Nghĩ đến tự nhiên lòng tôi lại quặn đau, như có một nguồn sống ngầm ray rứt, chớp nhoáng đã một năm đi qua, Người không còn nữa giữa cõi đời ác trược đầy nghiệp chướng nầy.

Tôi lặng lẽ đi từng bước thật chậm, tôi nghĩ đến Người trong niềm âm thầm  đơn độc của buổi chiều vàng tuổi tác, nhớ lại bước chân đã in vết lạ vết quen, trên nhiều lãnh thổ buồn vui khác nhau, Người vô cùng tận tụy kéo vali đi xuyên nhiều tiểu ban trên đất nước Hoa Kỳ, truyền dạy chân lý của Phật Đà. Thế nhưng, trận gió vô thường chưa từng ngưng thổi. Khi Người ra đi, phủi nhẹ hết những công việc cho đời, có lẽ Người mới được thảnh thơi.

Tôi đã ngồi nhìn qua cửa sổ, mây lững lờ trôi; nhìn ngắm tách trà lan tỏa mùi hương của hoa lài và mùi hương trầm hòa quyện; tôi đang uống trà, tôi đang nhìn trăng; tôi đang đi từng bước qua cuộc đời…. rồi cũng chỉ là một tách trà thôi. Một tách trà trong khuya vắng âm thầm tưởng niệm đến Ni Sư Như Thủy, Người đã đi để lại vô vàn những bồi hồi thương nhớ …. Người vẫn luôn ẩn hiện trong ký ức của nhiều người, cho bao thế hệ sau nầy làm nơi tưới tẩm tâm linh trong những bài pháp thoại…. Người có biết không, Sư Tâm Chánh mỗi lần xem lại hình ảnh hay nghe pháp thoại của Người là nước mắt cứ chảy không ngừng.

 

 Một năm trôi qua đã vắng bóng Người….. Huynh đệ của Người còn đó Người biết không? Chúng con còn đây Người có nhớ không? Chỉ còn lại  những kỷ niệm vụn vặt mà thôi. Người đã ra đi một năm rồi, mùa Hạ năm nay chúng con không còn nghe tiếng nói, tiếng cười, hình ảnh của Người cứ mờ dần mờ dần chìm sâu vào hư vô như một làn sương khói mờ trong đêm lạnh.

 

Hẳn trong ký ức của nhiều người, Sư như một người chị, người mẹ kính yêu, rồi sau đó  làm Thầy giáo thọ của chúng tôi …Nhớ lại mùa Hạ năm xưa  tôi được ở chung tòa nhà với Người, lần đó tôi bị chóng mặt không thể tiếp tục giờ học, tôi  trở về phòng ….Người gõ cửa và hỏi tôi sao về sớm vậy?   -“Thưa  Thầy con mệt quá”, người  ân cần hỏi: “Có cần chị giúp gì không?”- “Thưa Thầy con chỉ cần ngủ sẽ khỏe lại thôi”. Thầy trả lời rất hài hước “Vậy thì chuyện ấy chị đành bó tay, you phải tự làm lấy”, nói xong Người khép  nhẹ cửa phòng và từng bước thật nhẹ nhàng đi thiền hành ngoài hành lang.

 

Những lời nói nhẹ nhàng và ấm áp được phát ra từ cõi lòng bình yên và thái độ của Người ban rải một cảm giác dễ chịu, có thể xoa dịu. Khi biểu đạt ra ngoài bằng hành động hay lời nói phù hợp với những gì đang xảy ra trong tâm thì năng lượng của nó sẽ được truyền tải năng lượng an lành, đích thực là liều thuốc bổ giúp nhau mau chóng hồi phục sức khỏe và tinh thần. Tôi lắng nghe từng bước chân của Người và tôi cũng chìm vào giấc ngủ bình yên, đó là lần cuối cùng tôi gặp Người ….

 

Mùa Hạ năm nay và bây giờ Người đã thật sự ra đi rồi, như  một tiếng chuông báo động, nó mất mát rất nhiều…. như mỗi khi chiều về không còn tiếng chuông. Đã bao năm sống trong tiếng chuông, lớn lên trong tiếng chuông, tiếng chuông đã là một phần đời sống của người xuất gia. Bây giờ chỉ còn những bài pháp thoại của Người sót lại. Gói trọn một niềm tin trong giáo pháp. Chỉ còn lại một khoảng trống vô tận. Những tâm hồn đều hướng về người. Như tiếng chuông chiều nghe an ủi, nghe như người vẫn còn ở đây…. 

 

Nhớ năm ấy, trên chuyến đi về hướng Vũng Tàu, cơn mưa phùn chợt đến, bầu trời chiều ảm đạm, những kỷ niệm năm xưa. Lối đi vào Thiền Viện Viên Chiếu thật vắng lặng, hàng cây khuynh diệpcao ngất giữa trời se se lạnh của mùa Đông. Tiếng ve rỉ rả gợi sầu, nó chẳng phá được cái vắng lặng mà càng làm cho nỗi êm ả của buổi tà dương thêm mênh mông. Lá khuynh diệp rơi đầy lối vào hai bên đường, những chú chim bay xào xạc bên những  bụi tre vàng ươm. Khu nhà khách đơn sơ bằng lá dừa ẩn mình sau Thiền đường, xa xa ngoài cánh đồng quê, tôi thích nhất là đi qua những cánh đồng ruộng lúa mênh mông của miền quê. Nghe tiếng chuông chùa vọng lại từ xa  tôi thấy như tâm hồn mình yên bình, nao nao làm sao ấy. Tiếng chuông như có an ủi, vỗ về mà cũng như lời buồn nhắc về một thời bình yên thuở nào.

Đó là lần đầu tiên tôi đến Thiền Viện Viên Chiếu, hôm ấy  thấp thoáng xuất hiện bóng người đi theo lối hai hàng dừa, từng bước chậm rãi đó là Ni Trưởng Như Thủy, Ni Sư Như Đức, Ni Sư Hạnh Huệ, Ni Sư Đồng Kính. Đó cũng là lần đầu tiên tôi được biết Chư vị. Buổi chiều hôm đó, hình ảnh này in đậm trong tâm trí tôi, nhắc nhở tôi về hình bóng của con người nổi bật luôn tận tụy dạy cho chúng tôi từng bài kinh kệ. Kỷ niệm này ảnh hưởng rất nhiều đến đời sống tâm  linh của tôi. Nhẹ nhàng giống như cái không gian mờ pha lẫn sương mù những ngày Đông của miền quê.

 

Cái buổi tối hôm ấy của hai mươi năm trước đây, dưới ngọn đèn dầu leo lét huynh đệ chúng tôi ngồi hái đậu phụng, vào dịp cuối năm thu hoạch đậu, ngày thì huynh đệ ra đồng nhổ và gánh đậu về, tối cùng nhau ngồi hái từng hạt đậu, đem phơi khô để ép dầu.

Nhớ, câu chuyện mà Ni Trưởng Như Thủy kể cho chúng tôi nghe đêm hôm đó là một câu chuyện Thiền:

Bạch Lạc Thiên và Thiền sư Điểu Sào. Thiền sư  Điểu Sào hay ngồi thiền trên cây cao có cành lá sum suê ở trong địa phận cầm quyền của Quan huyện Bạch Lạc Thiên. Hôm đó Quan huyện đến quyến thăm Thiền sư và nói: “Chỗ Thầy Ngồi trên cao thật là nguy hiểm”.

Thiền sư đáp: “Chỗ của Quan huyện ngồi còn nguy hiểm hơn nhiều”.

Bạch Lạc Thiên phân trần: “Tôi là quan huyện chỗ ấy đâu có gì là nguy hiểm.” Thiền sư đáp: “Đó là chỗ ông không hiểu mà thôi. Khi lòng tham bừng lên là tâm ông không vững, thì còn gì nguy hiểm hơn”

Bạch Lạc Thiên hỏi Phật Giáo dạy điều gì? Thiền sư tuyên đọc:

Điều xấu phải tránh. Điều tốt nên làm.

Giữ lòng trong sạch. Là lời  Phật dạy.

Họ Bạch phản đối: “Cái đó đứa bé lên ba cũng biết”

Thiền Sư đáp: “Đúng vậy, đứa bé lên ba cũng biết. Nhưng ông lão tám mươi khó làm được”.

Thế nào là hiểu cho được đâu là sự nguy hiểm của việc ngồi thiền trên cây cao và sự nguy hiểm của việc ngồi cao trên quyền chức.

Tất cả những đối nghịch như thế  trong đời thật là khó nói. Câu chuyện Thiền vô ngôn nhưng không phải vì thế mà người ta có thể quên được.

Đó là những gì lưu dấu trong một tháng tôi được tu học tại Thiền Viện Viên Chiếu năm ấy.

 

Người đã đi qua cuộc đời nầy

Người rong chơi trong cuộc đời nầy

Người nằm xuống buồn vui vào lãng quên

Những xót xa đành nói cùng hư không. 

 

 Đến đây nghe mắt mình rưng rưng theo từng nét chữ, bùi ngùi trong nỗi bùi ngùi, thương cho cuộc đời, những con người, những số phận, những vết thương lòng của một đời người lặng lẽ, đơn độc trong cuộc hành trình đi  trên con đường Truyền Đạo.

 

Thời gian vô hình và vô tình vẫn muôn đời làm chứng cho sự thật, vô thường khiến cho con người phải ẩn nhẫn im lặng chịu đựng sự đi qua và tàn phá. Màu sắc một đời người rồi cũng chứa đầy ray rứt như màu thời gian.

Màu thời gian xanh xanh. Màu thời gian tím ngắt” khiến cho người hoảng hốt nhìn lại, không còn vọng động tìm kiếm giữa một thế giới thay đổi. Thoáng một chút sương mù trong tôi, thương tưởng như thế khi thấy lại một cái gì không còn là của ngày xưa nữa, như câu kệ đầy thức tỉnh trong bài kinh cầu chiều nay hiện ra với tất cả hùng lực.

 

“Ngày nay đã qua rồi. Mạng sống giảm dần.

Thời gian lại hết.Ta hãy nhìn lại. Mình đã làm gì.”

 

Không ai có thể đưa tay níu lại thời gian để giữ cho mình không thay đổi. Thôi hãy hài lòng chấp nhận và thảnh thơi sống với thực tại. Đó là cách tìm sự an tâm trước mọi đổi thay.

 

Trong đời sống nầy, người ta không chỉ dễ dàng buồn đau vì sự tàn phá cay nghiệt của thời gian mà còn đắm chìm trong tủi khổ của cái tâm phân biệt, chẳng biết đâu là đường đi nẻo về, là ý nghĩa của cuộc sống.

 

May mắn lớn nhất trong cuộc đời tôi là đã gặp được những bậc Thầy vô cùng đáng kính. Khi nhận ra con đường mình cần phải đi, nhưng rồi tôi lại loay hoay tìm kiếm những điều kiện đơn thuần, với nhiều hình thức bên ngoài. Đó cũng là ý nghĩ hướng ngoại, khi đối diện với rào cản của phiền não quá lớn. Thế nhưng, cuộc sống hoàn toàn có thể làm được giữa cuộc sống có nhiều sự chi phối. Ngược lại, tôi thường đem tâm của mình về  một khuôn khổ đúng đắn, dẫn dắt nó đi đúng hướng và biết dừng lại đúng lúc.

 

Sáng nay, tôi hạnh phúc vì có vài kỷ niệm với Ni Trưởng Như Thủy. Qua từng lời dạy và cách sống của Người là sức mạnh nâng niu tôi từng bước đi tới. Người  bước can trường trong thánh thiện, có thể đời Người  cũng có lúc lẻ loi. Nhưng Người  đã đi trọn đời bằng những bước chân vô cùng kiêu hùng. Và tôi biết, vì thế giới bình an của Người là Người luôn dành cho thế hệ mai sau. Cuộc đời Người lại đốt cháy những ý nghĩ nhỏ nhoi trong tâm hồn nhỏ bé của tôi.  

  

 Người luôn có tấm lòng nhẫn nại bao dung trải rộng tới mọi người. Trong cuộc đời lý tưởng, Người là ngọn nến cháy mãi để sưởi ấm những trái tim bị thương tổn. Những gì mà Người đã để lại cho đời. Người sống với đời bằng trái tim tràn đầy yêu thương. Tất cả như một sợi dây vô hình, nhưng rất đổi kỳ dịu đủ sức vượt qua thử thách. Con người cần hiểu nhau hơn, xít lại gần nhau hơn, khiến cho mọi người cảm thấy ấm lòng, cho đi yêu thương  chắc hẳn sẽ nhận lại tiếng cười hạnh phúc. Đó là thông điệp cho cuộc sống. Cuộc đời và kiếp người chung quy chỉ là mộng. Tám ngọn gió thế gian đã  không ngừng thổi trên những cánh nhạn đã chọn lối về lặng lẽ…Đã đến giờ Người phải ra đi. Người  đã chiến đấu trong cuộc chiến cao đẹp, đã chạy hết chặng đường, đã giữ vững niềm tin. Cánh cửa  nơi cõi Tây rộng mở chờ người bước vào.

 

 

Las Vegas, Mùa Thu, October – 01-  2018

Thích Nữ Tâm Vân







Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
4/1/2013(View: 12476)
Đây là tài liệu do cố thi sĩ Bùi Giáng ghi chép ngay trong cuốn sổ tay của chúng tôi vào một buổi trưa ngày mùng 10 tháng 11 năm 1993 tại chùa Pháp Vân, Gia Định, Sàigòn.
3/29/2013(View: 12753)
Đức Đại Lão Hòa thượng Chánh Thư Ký Xử Lý Viện Tăng Thống GHPGVNTN là thế hệ thứ 8 của phái Thiền Thiệt Diệu Liễu Quán, Pháp danh Trừng Nguyên, Hiệu Đôn Hậu. Xuất gia và thọ cụ túc với Hòa thượng Bổn sư là Tổ Tâm Tịnh, khai sơn Chùa Tây Thiên Huế, sau các Pháp huynh là quý Hòa thượng Giác Nguyên, Giác Viên, Giác Tiên, Giác Nhiên. . .
3/29/2013(View: 9172)
Trường trung học chưa được cất. Ngoài giờ học, bọn trẻ tha hồ đi rong chơi. Khi lên núi Lăng, khi lên Thạch Động, lúc ra biển Mũi Nai. Mấy đứa con trai rắn mắt, thích cảm giác mạnh thì rủ nhau hái trộm xoài, đặt bẫy, bắn chim hoặc xuống mé biển dưới chân hòn Kim Dự, ...
3/29/2013(View: 8042)
Nói đến thơ và nền Triết Học lưu xuất từ Tư Tưởng Phật học Tánh Không hay một Triết lý phiêu bồng từ Đông sang Tây của thế tục đế, hầu như đã được tồn đọng trong con người gầy guộc, nhỏ nhắn, dáng dấp phiêu diêu, lãng đãng như sương sớm, mây chiều.
3/29/2013(View: 7682)
Những năm tháng dùi mài kinh điển trong các tự viện để thể nhập Phật học huyền vi, u hiển, một thời nào đó đã lầu thông giáo lý cao siêu giải thoát, hướng thân lập mệnh trên con đường giác ngộ, để rồi hôm nay là thành quả hiển nhiên có được tận cùng tâm hồn sâu thẳm mà Thầy đang phô diễn như ý nghĩa cao siêu của Đại Bi Tâm.
3/29/2013(View: 8334)
Đây là chủ đề bài thuyết trình của diễn giả Nguyên Siêu, tác giả 650 trang sách trong tác phẩm “Tuệ Sỹ Đạo Sư, Thơ, Và Phương Trời Mộng” tập 1 và tập 2 vừa hoàn thành và được chính thức ra mắt tại hội trường của Hiệp Hội Người Việt tại San Diego, miền Nam California.
3/29/2013(View: 15268)
Tôi người Quảng Bình, 1 trong 3 nơi mà Huyền Trân công chúa mới đáng là thành hoàng. Tổ tiên gốc người Hải dương, 4 cha con cùng có mặt trong đạo quân tiếp quản Quảng Bình, rồi định cư ở 3 làng. Thuận Lý là con trưởng, kế đó, Phương Xuân là con thứ 2. Diêm điền, làng tôi, là nơi Tổ của làng tôi cùng con út định cư.Làng tôi cách trung tâm tỉnh lỵ Quảng bình chỉ có chừng 600 mét đường chim bay.
3/27/2013(View: 17929)
Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư, Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 01 (2007, Canada) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 02 (2008, Hoa Kỳ) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 03 (2019, Hoa Kỳ) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 04 (2010, Đức) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 05 (2011, Pháp) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 06 (2012, Úc) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 07 (2013, Hoa Kỳ) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 08 (2014, Úc) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 09 (2015, Pháp) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 10 (2016, Canada) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 11 (2018, Pháp) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 12 (2020, Úc)
3/18/2013(View: 8569)
Viện Đại học Vạn Hạnh ở Sài Gòn, thủ đô miền Nam Việt Nam, trước năm 1975 là một trung tâm văn hóa Phật giáo nổi tiếng lừng lẫy. Nơi đây đã quy tụ biết bao hào kiệt trượng phu, biết bao tao nhân mặc khách, biết bao giáo sư, triết gia cự phách thượng đẳng. Đặc biệt là các thiên tài xuất chúng siêu việt như Phạm Công Thiện, Tuệ Sỹ, Lê Mạnh Thát, nổi bật nhất là Bùi Giáng, một thi sĩ kỳ dị, xưa nay chưa từng thấy xuất hiện trên bầu trời văn nghệ Việt Nam và thế giới.
3/11/2013(View: 8750)
Lê Quý Đôn (1726-1784) là một danh sĩ, nhà văn hóa, sử gia, sống vào đời Hậu Lê. Ông không những ba lần thi đều đỗ đầu, kinh qua nhiều chức quan, đã từng đi sứ sang Trung Quốc, mà còn là một nhà bác học, đã để lại một gia tài đồ sộ bao gồm khoảng 16 tác phẩm và nhiều thơ, phú bằng chữ Nôm khác. [1] Trong số những tác phẩm ấy, có Kiến văn tiểu lục, [2] là một tác phẩm dành riêng quyển 9 – thiên Thiền dật, để viết về Phật giáo và Thiền tông Phật giáo Việt Nam, chủ yếu là những vị Tổ thuộc Thiền phái Trúc lâm. Trong bài viết ngắn này, chúng ta thử chỉ tìm hiểu quan điểm của Lê Quý Đôn về Phật giáo, mà không bàn sâu đến phần Thiền tông Việt Nam mà ông đã chép.