Ôn Đã Về Rồi (thơ điếu)

26/07/201820:48(Xem: 6572)
Ôn Đã Về Rồi (thơ điếu)

Chan Dung HT Thich Truong Minh_2


ÔN ĐÃ VỀ RỒI


Kính dâng Ôn Trường Minh



Ba giờ rưỡi sáng hăm bốn tháng bảy
Trong đêm tĩnh lặng ai nấy ngủ yên
Ôn đã thâu thần thị tịch an nhiên
Để lại pháp quyến bao niềm thương tiếc

Ôn chọn sự chết đi vào bất diệt
Ngài về cõi Phật để biết vô sanh
Đến đây một thân, đi cũng một mình
Không muốn ai phiền, Ngài đi nhanh chóng

Đã sanh làm người ai chẳng mơ mộng
Có một cuộc sống hạnh phúc tròn đầy
Với bao nguyện ước vun trồng đắp xây
Nhưng nào phải ai cũng được như ý

Nhất là tình người mấy ai tri kỷ
Lắm khi sơ ý để rồi hiểu lầm
Đời cũng như Đạo cũng chừng ấy tâm
Cuối đời chỉ mong ân oán được cởi

Đã quyết theo Phật xin đừng buộc trói
Bao chuyện xưa cũ mong mỏi bỏ qua
Ôn chỉ muốn nói như người Cha già
Mong cho gia đạo thuận hòa vui vẻ

Nói chi cho phải, làm sao có thể
Thuyết phục lòng ai để cùng đồng hành
Đạo lộ còn dài biển cả mông mênh
Mong hãy tin nhau, thuyền cùng đến bến

Ôn đã khuất rồi, lòng ai lưu luyến
Nhớ sao năm tháng đến tu Đạo Tràng
Tây Phương Tịnh Độ Phật hiệu ngân vang
Giờ còn đâu nữa bước chân Hòa Thượng

Đôi lúc Phật tử nghĩ Ngài chẳng ráng
Khi chúng niệm Phật Ôn vắng một nơi
Nào ai hiểu cho Ngài tu cả đời
Đâu như tụi con vui thời mới tới

Chắc Ngài thương lắm chúng sanh nông nổi
Nhân ngã bỉ thử tìm lỗi luôn thôi
Nhớ Ôn đôi lần xin lỗi mọi người
Vì phải vắng mặt, quên lời nghi thức

Nay con sám hối với lòng chân thật
Dù biết là Ôn không chấp cháu con
Con chuyên đến trễ nhưng Ôn hiểu lòng
Chỉ cần có mặt là Ôn tán thán

Ôn tu hạnh nhẫn Bồ tát Địa Tạng
Với lòng từ bi Đức Quán Thế Âm
Ai nói gì cũng tha thứ, không màng
Nụ cười Di Lặc làm gương con cháu

ÔN ĐÃ VỀ RỒI, con tim rực rạo
Cực Lạc đẹp lắm sen báu trang nghiêm
Tây Phương Thánh chúng bày tỏ nỗi niềm
Mừng Ngài trở về, trên thuyền Bát Nhã

Ôn an tâm nhé dù con vấp ngã
Không quên lời dạy đã thấm con tim
Ôn vẫn thường nói đừng quên chữ Tình
Chỉ cần mở lòng, Tín tâm nhập Đạo

GIÁC là Tam Bảo Ngài nương nhìn thấu
LINH tri vốn dĩ báu vật nơi tâm
TRƯỜNG kỳ niệm Phật Đạo lộ thênh thang
MINH xua vọng chấp Tây Phương liền hiện

PHÁP Phật bàng bạc nào nhọc tìm kiếm
QUYẾN luyến là lẽ đến đi tự nhiên
KÍNH tri ân Ôn mồi thắp ngọn đèn
LẠY Ngài ba lạy nghĩa tình thâm trọng.


Mộng Lệ An, 25-7-2018
Nghiệp Huân Dương








Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
02/12/2010(Xem: 10865)
Hòa thượng Thích Quảng Thiệp (1928-1998)
25/11/2010(Xem: 37770)
Trần Thái Tông là vị vua đầu của triều Trần. Ngài là đệ tử của thiền sư Viên Chứng trên núi Yên Tử. Ngài vừa làm vua vừa thực tập thiền. Ngài cũng từng thực tập thiền công án. Đây là 43 công án Vua đưa ra để cùng thực tập với tăng thân của Vua, gồm có giới xuất gia và tại gia. Thầy Làng Mai đã dịch những công án này ra tiếng Việt và tiếng Pháp năm 1968. Bản dịch tiếng Pháp xin xem ở phần phụ lục cuốn Clé Pour Le Zen, tác giả Nhất Hạnh, do nhà xuất bản JC Lattes ấn hành. Bản Hán Việt có trong Thơ Văn Lý Trần quyển II (Quyển thượng, trang 108-121), NXB Khoa Học Xã Hội.
24/11/2010(Xem: 15195)
Tiểu sử nhà văn Quách Tấn
15/11/2010(Xem: 10668)
Vào ngày 1-11-1963 khi quân đội đứng lên làm cuộc đảo chánh lật đổ chế độ của gia đình Ô. Ngô Đình Diệm - mà Hội Đồng Quân Dân Cách Mạng do Đại Tướng Dương Văn Minh cầm đầu gọi đó là cuộc “Cách Mạng” thì tôi là cậu sinh viên Luật Khoa Năm Thứ Nhất, chuẩn bị thi lên Năm Thứ Hai của Đại Học Luật Khoa Sài Gòn. Bố tôi sính đọc sách báo, vả lại gia đình cư ngụ ở xóm lao động cho nên Radio hàng xóm mở ầm ầm cả ngày khiến dù không muốn nghe nhưng cũng phải nghe tin tức từng giờ của đài phát thanh. Hơn thế nữa khi Sài Gòn nổ ra cuộc đấu tranh của Phật Giáo thì hầu như các đại học, trung học đều đóng của hoặc tự động bãi khóa.
10/11/2010(Xem: 11393)
Hoà Thượng thế danh Diệp Quang Tiền, pháp danh Tâm Khai, tự Thiện Giác, hiệu Trí Ấn Nhật Liên. Ngài sanh ngày 13 tháng 10 năm Quý Hợi (1923) tại thôn Xuân Yên, xã Triệu Thượng, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, trong một gia đình thâm tín Phật Giáo. Thân phụ là cụ Diệp Chí Hoan; thân mẫu là cụ bà Phan Thị Đường. Hai cụ sinh hạ được 5 người con : 4 nam, 1 nữ - Ngài là con thứ trong gia đình, sau anh trưởng là Thầy Diệp Tôn (Thích Thiện Liên). Năm lên 6 tuổi (1928) gia đình Ngài dời về thôn Diên Sanh, xã Hải Thọ, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Thân sinh Ngài đã rước thầy Đồ Nho danh tiếng về nhà để dạy chữ Hán cho hai con. Hai anh em Ngài thường được cụ Đồ khen là thông minh, hứa hẹn một tương lai tốt đẹp. Năm lên 10 tuổi (1932), Ngài theo học Việt Văn tại thôn Diên Sanh.
02/11/2010(Xem: 10758)
Thành kính khẩn bạch đến chư Tôn Đức Tăng Già của quý Giáo Hội, quý Tự Viện, quý tổ chức Phật Giáo cùng toàn thể chư vị thiện nam tín nữ Phật tử: Đại Lão Hòa Thượng thượng Huyền, hạ Ấn, thế danh Hoàng Không Uẩn, sinh năm 1928 tại Quảng Bình, Việt Nam
01/11/2010(Xem: 17091)
Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 1, Chùa Pháp Hoa (2000) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 2, Chùa Pháp Bảo (2001) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 3, Chùa Linh Sơn (2002) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 4, Tu Viện Vạn Hạnh (2003) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 5, Tu Viện Quảng Đức (2004) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 6, Chùa Phổ Quang (2005) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 7, Chùa Pháp Bảo (2006) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 8, Chùa Pháp Hoa (2007) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 9, Chùa Linh Sơn (2008) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 10, Chùa Pháp Bảo (2009) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 11, Thiền Viện Minh Quang (2010) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 12, Tu Viện Quảng Đức (2011) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 13, Tu Viện Vạn Hạnh (2012) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 14, Thiền Viện Minh Quang (2013) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 15, Tu Viện Quảng Đức (2014) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 16, Chùa Pháp Pháp Bảo (2015) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 17, Tu Viện Quảng Đức (2016) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 18, Chùa Pháp Hoa (2017) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 19, Chùa Pháp Hoa (2018)
01/11/2010(Xem: 48771)
Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 1, Chùa Pháp Hoa (2000) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 2, Chùa Pháp Bảo (2001) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 3, Chùa Linh Sơn (2002) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 4, Tu Viện Vạn Hạnh (2003) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 5, Tu Viện Quảng Đức (2004) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 6, Chùa Phổ Quang (2005) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 7, Chùa Pháp Bảo (2006) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 8, Chùa Pháp Hoa (2007) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 9, Chùa Linh Sơn (2008) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 10, Chùa Pháp Bảo (2009) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 11, Thiền Viện Minh Quang (2010) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 12, Tu Viện Quảng Đức (2011) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 13, Tu Viện Vạn Hạnh (2012) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 14, Thiền Viện Minh Quang (2013) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 15, Tu Viện Quảng Đức (2014) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 16, Chùa Pháp Pháp Bảo (2015) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 17, Tu Viện Quảng Đức (2016) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 18, Chùa Pháp Hoa (2017) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 19, Chùa Pháp Hoa (2018)
29/10/2010(Xem: 10132)
Kể từ khi vết tích của chùa Thiên Mụ được ghi lại đơn sơ trong sách Ô Châu Cận Lục vào năm 1553 (1), chùa đã tồn tại gần 450 năm cho đến ngày nay. Trải qua bao nhiêu cuộc bể dâu, chùa vẫn giữ được địa vị và vẫn đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống đạo và đời của dân Huế, nói riêng, và của dân cả nước, nói chung. Qua đầu thế kỷ 17, chùa đã thực sự đi vào lịch sử sau khi Nguyễn Hoàng vào xứ đàng trong để gây dựng cơ nghiệp đế vương với huyền thoại “bà tiên mặc áo đỏ” (9).