Ôn Đã Về Rồi (thơ điếu)

26/07/201820:48(Xem: 6318)
Ôn Đã Về Rồi (thơ điếu)

Chan Dung HT Thich Truong Minh_2


ÔN ĐÃ VỀ RỒI


Kính dâng Ôn Trường Minh



Ba giờ rưỡi sáng hăm bốn tháng bảy
Trong đêm tĩnh lặng ai nấy ngủ yên
Ôn đã thâu thần thị tịch an nhiên
Để lại pháp quyến bao niềm thương tiếc

Ôn chọn sự chết đi vào bất diệt
Ngài về cõi Phật để biết vô sanh
Đến đây một thân, đi cũng một mình
Không muốn ai phiền, Ngài đi nhanh chóng

Đã sanh làm người ai chẳng mơ mộng
Có một cuộc sống hạnh phúc tròn đầy
Với bao nguyện ước vun trồng đắp xây
Nhưng nào phải ai cũng được như ý

Nhất là tình người mấy ai tri kỷ
Lắm khi sơ ý để rồi hiểu lầm
Đời cũng như Đạo cũng chừng ấy tâm
Cuối đời chỉ mong ân oán được cởi

Đã quyết theo Phật xin đừng buộc trói
Bao chuyện xưa cũ mong mỏi bỏ qua
Ôn chỉ muốn nói như người Cha già
Mong cho gia đạo thuận hòa vui vẻ

Nói chi cho phải, làm sao có thể
Thuyết phục lòng ai để cùng đồng hành
Đạo lộ còn dài biển cả mông mênh
Mong hãy tin nhau, thuyền cùng đến bến

Ôn đã khuất rồi, lòng ai lưu luyến
Nhớ sao năm tháng đến tu Đạo Tràng
Tây Phương Tịnh Độ Phật hiệu ngân vang
Giờ còn đâu nữa bước chân Hòa Thượng

Đôi lúc Phật tử nghĩ Ngài chẳng ráng
Khi chúng niệm Phật Ôn vắng một nơi
Nào ai hiểu cho Ngài tu cả đời
Đâu như tụi con vui thời mới tới

Chắc Ngài thương lắm chúng sanh nông nổi
Nhân ngã bỉ thử tìm lỗi luôn thôi
Nhớ Ôn đôi lần xin lỗi mọi người
Vì phải vắng mặt, quên lời nghi thức

Nay con sám hối với lòng chân thật
Dù biết là Ôn không chấp cháu con
Con chuyên đến trễ nhưng Ôn hiểu lòng
Chỉ cần có mặt là Ôn tán thán

Ôn tu hạnh nhẫn Bồ tát Địa Tạng
Với lòng từ bi Đức Quán Thế Âm
Ai nói gì cũng tha thứ, không màng
Nụ cười Di Lặc làm gương con cháu

ÔN ĐÃ VỀ RỒI, con tim rực rạo
Cực Lạc đẹp lắm sen báu trang nghiêm
Tây Phương Thánh chúng bày tỏ nỗi niềm
Mừng Ngài trở về, trên thuyền Bát Nhã

Ôn an tâm nhé dù con vấp ngã
Không quên lời dạy đã thấm con tim
Ôn vẫn thường nói đừng quên chữ Tình
Chỉ cần mở lòng, Tín tâm nhập Đạo

GIÁC là Tam Bảo Ngài nương nhìn thấu
LINH tri vốn dĩ báu vật nơi tâm
TRƯỜNG kỳ niệm Phật Đạo lộ thênh thang
MINH xua vọng chấp Tây Phương liền hiện

PHÁP Phật bàng bạc nào nhọc tìm kiếm
QUYẾN luyến là lẽ đến đi tự nhiên
KÍNH tri ân Ôn mồi thắp ngọn đèn
LẠY Ngài ba lạy nghĩa tình thâm trọng.


Mộng Lệ An, 25-7-2018
Nghiệp Huân Dương








Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/04/2013(Xem: 10142)
Hòa Thượng Bửu Chơn thế danh là Phạm Văn Thông, sinh năm Tân Hợi (1911) tại Sa Đéc – Đồng Tháp. Thuở thiếu thời Ngài sinh sống tại đất nước Chùa Tháp Campuchia, do đó Ngài thấm nhuần Phật Giáo Nam Tông vốn là quốc giáo của Vương quốc này. Sẵn có túc duyên Phật pháp nên vào năm 1940, Ngài xuất gia thuộc hệ phái Nam Tông. Sau đó Ngài vào rừng chấp trì hạnh đầu đà (Dhatanga) suốt mười hai năm. Năm 1951 Ngài được Phật tử Việt Nam cung thỉnh về Sài Gòn để truyền bá giáo pháp Nguyên Thủy
09/04/2013(Xem: 9106)
Hòa thượng thế danh là Võ Hóa, pháp danh Chơn Húy, pháp hiệu Khánh Anh, Ngài sinh năm Ất Mùi (1895) tại xã Phổ Nhì, tổng Lại Đức, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi. Khi nhỏ, Ngài theo học Nho, luôn tỏ ra là một Nho sinh xuất sắc.
09/04/2013(Xem: 10599)
Hòa thượng Khánh Hòa thế danh Lê Khánh Hòa, Pháp danh Như Trí, pháp hiệu Khánh Hòa, sinh năm Mậu Thân (1877) tại làng Phú Lễ, tổng Bảo Trị, quận Ba Tri, tỉnh Bến Tre.
09/04/2013(Xem: 9079)
Hòa thượng Thích Hưng Từ, thế danh Bùi Vạn Anh, sinh ngày mùng 1 tháng 8 năm Tân Hợi ( 1911 ) tại làng Bình Hòa, xã An Dân, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên. Ngài sinh trong một gia đình có truyền thống đạo Phật. Thân phụ là cụ Bùi Thế Vĩ, pháp danh Như chơn, thân mẫu là cụ bà Võ Thị Biểu, pháp danh là Thị Bửu. Từ nhỏ Ngài được song thân giáo dục trong tinh thần từ bi và chan chứa đức hỷ xả của Phật, nên Ngài sớm mộ cửa Thiền.
09/04/2013(Xem: 8551)
Hòa thượng Huệ Quang, thế danh Nguyễn Văn Ân sing năm 1888 tại Ô Môn, tỉnh Cần Thơ, sau theo mẹ về Trà Vinh. Năm 1902,Ngài xin xuất gia vào chùa Long Thành ở Trà Cú được Hòa thượng Thiện Trí mến thương đặt danh pháp là Thiện Hải. Ngoài giờ học Phật pháp, Ngài lại được Hòa thượng cho học thêm y học.
09/04/2013(Xem: 8705)
Hòa thượng Thích Phúc Hộ, thế danh là Huỳnh Văn Nghĩa, sinh ngày 24 tháng 7 năm Giáp Thìn (1904) đời vua Thành Thái năm thứ 16 tại làng Triều Sơn, xã Xuân Thọ, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên. Song thân của Ngài là cụ ông Huỳnh Trung và cụ bà Trần Thị Nho.
09/04/2013(Xem: 9798)
Chùa Thập Tháp là một trong số các ngôi tổ đình nổi tiếng của đất Bình Định Nếu như ở thời kỳ khởi đầu, ngôi tổ đình ấy được chú ý nhiều vì vị khai sơn là Thiền sư Nguyên Thiều - người có công lớn trong sứ mạng truyền bá Phật giáo ở Đàng Trong thời Nam Bắc phân tranh, hậu bán thế kỷ 17 ; thì vào thời hiện đại, tổ đình Thập Tháp được cả nước biết đến vì sự có mặt của Quốc sư Phước Huệ (1869-1945).
09/04/2013(Xem: 9850)
Ngài đã nêu cao tinh thần Bi, Trí, Dũng phục vụ chúng sinh, cống hiến trọn vẹn đời mình cho sự nghiệp chung của đạo pháp và dân tộc Việt Nam. Hòa thượng Thích Trừng San, pháp tự Minh Hiền, hiệu Hải Tuệ, thế danh Nguyễn San sau đổi là Trần Văn Lâu, nối pháp đời thứ 42 dòng Lâm Tế Liễu Quán. Ngài sinh năm Nhâm Tuất (1922), tại thôn Phú Khánh, xã Diên Thạnh, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa. Năm lên 8 tuổi, được song thân cho xuất gia học đạo với Hòa thượng Phổ Hiện, tại chùa Khánh Long, Diên Khánh. Sau khi Bổn sư viên tịch, Ngài y chỉ với Hòa thượng Chánh Ký, kế vị trụ trì chùa Khánh Long. Năm 1943 được y chỉ sư gửi đến thọ giáo với Hòa thượng Bích Không, trụ trì chùa Hải Đức (Nha Trang).
09/04/2013(Xem: 12769)
Hòa thượng Giới Nghiêm thế danh là Nguyễn Đình Trấn, sinh ngày 5 tháng 5 năm 1921, tại làng Gia Lê Thượng, xã Thủy Phương, huyện Hương Phú, tỉnh Thừa Thiên - Huế. ngài xuất thân trong một gia đình gồm ba anh em, có tinh thần yêu nước và có truyền thống đạo đức lâu đời. Ông nội là bậc xuất gia, cha là Hòa Thượng Quang Diệu, chú cũng xuất gia, bác là Hòa thượng Phước Duyên.
09/04/2013(Xem: 8233)
Hòa thượng pháp danh Thị An, pháp tự Hành Trụ, pháp hiệu Phước Bình, thuộc dòng Lâm Tế Chúc Thánh đời thứ 42. Ngài thế danh là Lê An, sinh năm 1904 trong một gia đình trung nông tại làng Phương Lưu, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên. Thân phụ là cụ Lê Uyển, thân mẫu là bà Nguyễn Thị Sử. Ông Bà có bốn người con, cả ba người con trai đều xuất gia đầu Phật.