Gạn đục khơi trong

25/10/201713:56(Xem: 6446)
Gạn đục khơi trong


Dai Lao Hoa Thuong Thich Tac An (5)

GẠN ĐỤC KHƠI TRONG

(Những dòng kỉ niệm cùng Cố Hoà thượng Viện chủ Chùa Thiền Tôn 2)


Một bữa nọ, tôi ghé qua Thiền Tôn có chút việc vào giữa trưa. Do có hẹn với thầy trụ trì trước, nên tôi ngồi ở băng ghế đá và chờ thầy đi đám về. Lúc này sư ông mở cửa phòng đi ra rồi ngồi ở bàn ăn bên cạnh - chỗ mà sư ông vẫn hay ngồi. Tôi đến chắp tay xá chào sư ông, sư ông cũng xá chào lại. Lúc này, quý sư cô trong chùa và Phật tử cũng vừa ở đám về, chợt ở đâu trên trường lan đang lợp ngói có tiếng anh thợ hồ vọng xuống:

- Mấy cô, hồi nãy ở chùa đi hết, có ông nào cầm cái giỏ cứ lẻo đẻo theo hòa thượng trước phòng hoài, mấy cô hỏi hòa thượng thử coi có mất gì không ?

Mấy cô nghe xong chạy đến chỗ sư ông han hỏi. Sư ông vào phòng xách ra cái giỏ ni lông, mở lấy hai tượng Phật giống y nhau bằng đồng dính đầy đất sét để lên bàn:

- Nó nói tui nó mới đào được ở bên Cát Lái. Nói bán tui ba chục triệu.

Mọi người xúm lại quanh bàn sư ông:

- Rồi sư phụ mua của nó ba chục triệu hả ? Sư phụ bị nó gạt rồi. Mấy cái tượng này làm gì mà đến ba chục triệu. Mà sao nó dính đất sét tùm lum, chắc đồ cổ hả sư phụ ?

Sư ông cười:

- Tui vô phòng lấy bảy triệu bỏ túi định đưa nó, mà nghĩ đưa nó bớt lại, còn giữ một triệu ở đây. Thành ra hai bức có sáu triệu àh.

Mọi người bàn tán:

- Vậy mà tụi con tưởng sư phụ mua hai bức này mà ba chục triệu chứ. Nếu có sáu triệu thì cũng được. Nhưng cái này không phải đồng đặc đâu sư phụ. Có cái vết hàn ở dưới đế nè. Nó đổ cát vào, tụi con lắc nghe sột soạt nè.

Sư ông cười nói:

- Lấy cái gì nạy cái đế để đổ hết cát ra. Nhìn cái tượng này làm rất đẹp, trên áo hay cánh sen gì cũng có Phật, nên mua vậy tui nói không có mắc đâu, quá trời Phật mà mắc gì ?

Mấy cô mới cầm tượng lên đếm số vị Phật trên áo và trên cánh sen:

- Chắc cái này là đồ cổ, dính đất sét tùm lum, mỗi vị Phật nó tính một trăm ngàn nên mấy chục vị mới ra giá ba triệu hả sư phụ ?

Lúc này tôi vẫn đứng im cạnh sư ông, mấy cô lật tượng Phật tới lui rồi từ từ rã nhóm lấy xe ra về. Sư ông quay qua nói tôi:

- Dị nghị cho đã, chẳng giải quyết được gì, rồi giờ không có ai rửa tượng Phật cho tôi, để hai bức tượng dính đất sét như vậy.

Tôi nghe vậy hiểu ý sư ông, kêu nhóc cư sĩ đi theo chạy xuống bếp lấy thau nước và xin cây cọ sạch để rửa tượng. Trong lúc rửa, sư ông nói:

- Cái này nó làm bộ lấy đất sét trét lên, rồi nói là mới đào, chứ đồ cổ gì. Tượng Phật đẹp thì mua thôi, chê mắc rẻ, dị nghị làm gì rồi bỏ đi hết.

Lúc này có vài cô Phật tử vào xá chào sư ông trong lúc tôi đang kì cọ tượng Phật. Sư ông chỉ tay vô thau nước:

- Nè, vô lấy cái chai hứng nước này về rồi uống, nước này tắm Phật rồi linh lắm.

Sư ông cười, mấy cô cũng cười. Có một cô đạp hoài mà xe không nổ máy, sư ông nói:

- Tại không chịu lau tượng Phật, nên xe chạy không được đó.

Sư ông cười. Lúc này thầy trụ trì về, sư ông ghé tai tui nói là cứ nói là mua ba chục triệu để coi thầy nói gì. Thầy và quý thầy chào sư ông, sư ông khoe mới mua hai bức tượng ba chục triệu của người ta nói mới đào được. Thầy trụ trì cũng nghĩ sư ông bị gạt, nên cầm bức tượng lên xem. Sư ông nhìn một hồi rồi cười:

- Mua có sáu triệu thôi. Mua rồi để trên kệ, để có Phật mà nhìn. Ai gạt hay xấu gì đó thì kệ, tôi tin ông Phật này thật nên mua là được rồi.

Lúc sau, sư ông kêu một thầy lại rồi tặng cho một bức tượng, nói cho về có Phật mà thờ.

* Bàn: Trong đường tu, không phải mình có đông Phật tử, có nhiều người hỗ trợ là hạnh phúc nhất, mà có phước được gần gũi với những vị cao niên thạc đức mới là hạnh phúc nhất. Thời nay, mình chỉ cần có hơi giọng tụng kinh một chút, có tài ăn nói một chút là được nhiều người theo rồi. Nhưng nhiều khi những cái mình nói, mình tụng đó nhưng mình không có làm, toàn là sáo ngữ, nghĩa là lời nói không đi đôi với việc làm. Được gần gũi với sư ông và những bậc tôn túc, mình học được rất nhiều từ thân giáo lẫn khẩu giáo của quý ngài. Từ việc nhỏ nhặt nhất, ai xá chào mình, sư ông cũng đều xá chào lại để không tổn đức. Thông thường mình không để ý những cái vi tế như thế, rồi huân tập cho mình cái cống cao, ngã mạn, làm thầy rồi nên phải hơn người các thứ.

Thiết nghĩ, từng lời nói của sư ông nghe kĩ, ngẫm sâu giúp mình học nhiều điều. Chúng ta thường thích bàn, thích dị nghị chuyện người khác, nhưng bản thân mình lại chưa bao giờ đứng ra giải quyết được việc gì cho họ. Bản thân chúng ta có xu hướng thích thị phi, thích bàn tán chuyện của người, mặc dù việc mình thậm chí chưa rốt ráo vào đâu. Rồi đến việc kêu mọi người lấy chai hứng nước về uống. Bản thân mình mê tín, nghĩ nước tắm Phật là linh thiêng, sao ở đây cũng là nước tắm Phật đầy đất sét mà không ai chịu lấy về uống ? Chúng ta phải quán chiếu rõ điều này.

Bản thân sư ông biết rõ đó là tượng mới, là do người bán trét đất sét lên để lừa mình nói là đồ cổ mới đào, nhưng sư ông vẫn mua, với lý do đơn giản là "tui tin ông Phật này là thật" và "để trên kệ có Phật mà nhìn". Ngay điểm này mà cái thấy của mình đã thua sư ông rất xa rồi. Mình có cái thấy rằng có chất Phật bên trong tượng Phật chưa ? Hay là cũng có đó, nhưng còn phân biệt, chê mắc rẻ, dị nghị nhưng không giải quyết được gì. Ở cái bậc của sư ông, là không chấp vào cái gì rồi, không có như mình còn so đo, toan tính đủ thứ, thậm chí biết bức tượng ba triệu cũng nói "có đổ cát bên trong". Sư ông phá chấp ngay chỗ đó, "thì lấy cái gì nạy cái đế đổ hết cát ra". Mình có đổ hết được những phiền não, cấu uế ra khỏi thân tâm mình như sư ông chưa ? Bức tượng Phật chính là chúng ta, đất cát là phiền não trong ta. Nếu ta biết bên trong mình có phiền não mà không chịu đổ hết ra, thì mình còn dở lắm.


- Giới tử Thích Thiên Đức

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/04/2013(Xem: 10145)
Hòa Thượng Bửu Chơn thế danh là Phạm Văn Thông, sinh năm Tân Hợi (1911) tại Sa Đéc – Đồng Tháp. Thuở thiếu thời Ngài sinh sống tại đất nước Chùa Tháp Campuchia, do đó Ngài thấm nhuần Phật Giáo Nam Tông vốn là quốc giáo của Vương quốc này. Sẵn có túc duyên Phật pháp nên vào năm 1940, Ngài xuất gia thuộc hệ phái Nam Tông. Sau đó Ngài vào rừng chấp trì hạnh đầu đà (Dhatanga) suốt mười hai năm. Năm 1951 Ngài được Phật tử Việt Nam cung thỉnh về Sài Gòn để truyền bá giáo pháp Nguyên Thủy
09/04/2013(Xem: 9117)
Hòa thượng thế danh là Võ Hóa, pháp danh Chơn Húy, pháp hiệu Khánh Anh, Ngài sinh năm Ất Mùi (1895) tại xã Phổ Nhì, tổng Lại Đức, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi. Khi nhỏ, Ngài theo học Nho, luôn tỏ ra là một Nho sinh xuất sắc.
09/04/2013(Xem: 10602)
Hòa thượng Khánh Hòa thế danh Lê Khánh Hòa, Pháp danh Như Trí, pháp hiệu Khánh Hòa, sinh năm Mậu Thân (1877) tại làng Phú Lễ, tổng Bảo Trị, quận Ba Tri, tỉnh Bến Tre.
09/04/2013(Xem: 9084)
Hòa thượng Thích Hưng Từ, thế danh Bùi Vạn Anh, sinh ngày mùng 1 tháng 8 năm Tân Hợi ( 1911 ) tại làng Bình Hòa, xã An Dân, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên. Ngài sinh trong một gia đình có truyền thống đạo Phật. Thân phụ là cụ Bùi Thế Vĩ, pháp danh Như chơn, thân mẫu là cụ bà Võ Thị Biểu, pháp danh là Thị Bửu. Từ nhỏ Ngài được song thân giáo dục trong tinh thần từ bi và chan chứa đức hỷ xả của Phật, nên Ngài sớm mộ cửa Thiền.
09/04/2013(Xem: 8554)
Hòa thượng Huệ Quang, thế danh Nguyễn Văn Ân sing năm 1888 tại Ô Môn, tỉnh Cần Thơ, sau theo mẹ về Trà Vinh. Năm 1902,Ngài xin xuất gia vào chùa Long Thành ở Trà Cú được Hòa thượng Thiện Trí mến thương đặt danh pháp là Thiện Hải. Ngoài giờ học Phật pháp, Ngài lại được Hòa thượng cho học thêm y học.
09/04/2013(Xem: 8773)
Hòa thượng Thích Phúc Hộ, thế danh là Huỳnh Văn Nghĩa, sinh ngày 24 tháng 7 năm Giáp Thìn (1904) đời vua Thành Thái năm thứ 16 tại làng Triều Sơn, xã Xuân Thọ, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên. Song thân của Ngài là cụ ông Huỳnh Trung và cụ bà Trần Thị Nho.
09/04/2013(Xem: 9803)
Chùa Thập Tháp là một trong số các ngôi tổ đình nổi tiếng của đất Bình Định Nếu như ở thời kỳ khởi đầu, ngôi tổ đình ấy được chú ý nhiều vì vị khai sơn là Thiền sư Nguyên Thiều - người có công lớn trong sứ mạng truyền bá Phật giáo ở Đàng Trong thời Nam Bắc phân tranh, hậu bán thế kỷ 17 ; thì vào thời hiện đại, tổ đình Thập Tháp được cả nước biết đến vì sự có mặt của Quốc sư Phước Huệ (1869-1945).
09/04/2013(Xem: 9862)
Ngài đã nêu cao tinh thần Bi, Trí, Dũng phục vụ chúng sinh, cống hiến trọn vẹn đời mình cho sự nghiệp chung của đạo pháp và dân tộc Việt Nam. Hòa thượng Thích Trừng San, pháp tự Minh Hiền, hiệu Hải Tuệ, thế danh Nguyễn San sau đổi là Trần Văn Lâu, nối pháp đời thứ 42 dòng Lâm Tế Liễu Quán. Ngài sinh năm Nhâm Tuất (1922), tại thôn Phú Khánh, xã Diên Thạnh, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa. Năm lên 8 tuổi, được song thân cho xuất gia học đạo với Hòa thượng Phổ Hiện, tại chùa Khánh Long, Diên Khánh. Sau khi Bổn sư viên tịch, Ngài y chỉ với Hòa thượng Chánh Ký, kế vị trụ trì chùa Khánh Long. Năm 1943 được y chỉ sư gửi đến thọ giáo với Hòa thượng Bích Không, trụ trì chùa Hải Đức (Nha Trang).
09/04/2013(Xem: 12774)
Hòa thượng Giới Nghiêm thế danh là Nguyễn Đình Trấn, sinh ngày 5 tháng 5 năm 1921, tại làng Gia Lê Thượng, xã Thủy Phương, huyện Hương Phú, tỉnh Thừa Thiên - Huế. ngài xuất thân trong một gia đình gồm ba anh em, có tinh thần yêu nước và có truyền thống đạo đức lâu đời. Ông nội là bậc xuất gia, cha là Hòa Thượng Quang Diệu, chú cũng xuất gia, bác là Hòa thượng Phước Duyên.
09/04/2013(Xem: 8242)
Hòa thượng pháp danh Thị An, pháp tự Hành Trụ, pháp hiệu Phước Bình, thuộc dòng Lâm Tế Chúc Thánh đời thứ 42. Ngài thế danh là Lê An, sinh năm 1904 trong một gia đình trung nông tại làng Phương Lưu, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên. Thân phụ là cụ Lê Uyển, thân mẫu là bà Nguyễn Thị Sử. Ông Bà có bốn người con, cả ba người con trai đều xuất gia đầu Phật.