Cảm niệm Ân Sư

27/03/201707:25(Xem: 12204)
Cảm niệm Ân Sư


HT Thich Nhu Hue-7

Cảm niệm Ân Sư



Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Giờ đây chúng con xin kính cẩn nghiêng mình lạy bạch Giác Linh Sư Phụ. Huynh đệ  chúng con xin bày tỏ đôi dòng bi cảm, với nỗi niềm đau xót trước khi tiễn đưa nhục thân Sư Phụ về cảnh giới Niết Bàn thanh tịnh. Từ đây chúng con vĩnh viễn mất đi một bậc Thầy khả kính thân thương.

Than ôi! Một vì sao dẫn đường cho chúng con trong đêm tối vừa rơi rụng. Cả một không gian như trùm phủ một mầu đen vì mất đi một ánh chiêu dương.

Kính bạch Giác Linh Sư Phụ,

Đành rằng cuộc thế vô thường thăng trầm luân chuyển, dòng sinh diệt thay đổi không ngừng, trăng có khi tròn khi khuyết, người có lúc họp lúc tan, sinh ly tử biệt là lẽ thường tình tức sắc tức không, nhưng hôm nay đứng trước làn khói trắng của trầm hương đang lững lờ buông thả, đưa Sư Phụ về nơi tịch diệt. Trong cảnh thanh tịnh trang nghiêm, chúng con không sao không bồi hồi xúc cảm khi nghĩ đến hình bóng từ hòa của Sư Phụ từ đây không còn nữa. Giáo hội còn đây, chúng sanh còn đó sao Sư Phụ nỡ vội bước Tây Quy. Toàn thể huynh đệ chúng con xin kính cẩn nghiêng mình trước Linh đài Sư Phụ, để tỏ lòng thương tiếc một bậc Ân Sư, từ đây chúng con không còn được nhìn thấy hình bóng Sư Phụ hiền từ khả kính bao dung.


Kính lạy Giác Linh Sư Phụ,

Giờ chúng con có đôi dòng kính cẩn dâng lên bái biệt Tôn Sư thương kính của chúng con:

Nước Tào Khê đã tắt

Cơm Hương Tích còn đâu

Thầy ra đi để lại một trời sầu

Con ở lại với ngút ngàn thương tiếc

Cõi hồng trần Thầy ra đi rủ áo

Con cúi đầu bái biệt bậc Tôn Sư

Con nhớ lắm lời Tôn Sư dạy bảo

Ráng nghe con dù nghiệt ngã bủa vây

Nụ cười hiền với ánh mắt từ bi

Vẫn đậm nét nơi Pháp Hoa cổ tự

Đêm đông đến con gục đầu thổn thức

Nghe trong tim từng giọt lệ tuôn rơi

Bái biệt Thầy Phật Quốc cao đăng

Con ở lại giữa biển đời sông  pha tuyết giá

Thế đạo bẽ bàng sầu vương sơn dã

Buồn nhớ không nguôi bóng dáng Thầy

Kính lạy Giác Linh Thầy tôn kính.

Nam Mô Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật.

 

 

TKN Thích Viên Thông

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/04/2013(Xem: 12727)
Thiền sư THÍCH ĐỨC NHUẬN, pháp hiệu Trí Tạng, thế danh Đồng Văn Kha, sinh ngày 14 tháng Chạp năm Quí hợi (thứ bảy, ngày 19 tháng giêng, 1924). Chính quán : làng Lạc Chính, xã Duyên Bình, huyện Trực Ninh, phủ Xuân Trường, tỉnh Nam Định. Thân phụ là Đồng Văn Trung và thân mẫu là bà chính thất Hà Thị Thìn hiệu Trinh Thục (cả hai vị đều đã mãn phần). Là con thứ tư trong một gia đình thanh bần - dòng quí tộc. Ngài có 2 anh, 1 chị và 3 người em dì bào (2 trai, 1 gái).
09/04/2013(Xem: 7585)
Hòa thượng Thích Quảng Đức, thế danh là Lâm Văn Tuất sinh năm 1897 (Đinh Dậu) tại thôn Hội Khánh, xã Vạn Khánh, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa. Thân sinh là cụ Lâm Hũu Ứng và bà Nguyễn Thị Nương.
09/04/2013(Xem: 10309)
Hòa Thượng Bửu Chơn thế danh là Phạm Văn Thông, sinh năm Tân Hợi (1911) tại Sa Đéc – Đồng Tháp. Thuở thiếu thời Ngài sinh sống tại đất nước Chùa Tháp Campuchia, do đó Ngài thấm nhuần Phật Giáo Nam Tông vốn là quốc giáo của Vương quốc này. Sẵn có túc duyên Phật pháp nên vào năm 1940, Ngài xuất gia thuộc hệ phái Nam Tông. Sau đó Ngài vào rừng chấp trì hạnh đầu đà (Dhatanga) suốt mười hai năm. Năm 1951 Ngài được Phật tử Việt Nam cung thỉnh về Sài Gòn để truyền bá giáo pháp Nguyên Thủy
09/04/2013(Xem: 9636)
Hòa thượng thế danh là Võ Hóa, pháp danh Chơn Húy, pháp hiệu Khánh Anh, Ngài sinh năm Ất Mùi (1895) tại xã Phổ Nhì, tổng Lại Đức, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi. Khi nhỏ, Ngài theo học Nho, luôn tỏ ra là một Nho sinh xuất sắc.
09/04/2013(Xem: 10954)
Hòa thượng Khánh Hòa thế danh Lê Khánh Hòa, Pháp danh Như Trí, pháp hiệu Khánh Hòa, sinh năm Mậu Thân (1877) tại làng Phú Lễ, tổng Bảo Trị, quận Ba Tri, tỉnh Bến Tre.
09/04/2013(Xem: 9423)
Hòa thượng Thích Hưng Từ, thế danh Bùi Vạn Anh, sinh ngày mùng 1 tháng 8 năm Tân Hợi ( 1911 ) tại làng Bình Hòa, xã An Dân, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên. Ngài sinh trong một gia đình có truyền thống đạo Phật. Thân phụ là cụ Bùi Thế Vĩ, pháp danh Như chơn, thân mẫu là cụ bà Võ Thị Biểu, pháp danh là Thị Bửu. Từ nhỏ Ngài được song thân giáo dục trong tinh thần từ bi và chan chứa đức hỷ xả của Phật, nên Ngài sớm mộ cửa Thiền.
09/04/2013(Xem: 8757)
Hòa thượng Huệ Quang, thế danh Nguyễn Văn Ân sing năm 1888 tại Ô Môn, tỉnh Cần Thơ, sau theo mẹ về Trà Vinh. Năm 1902,Ngài xin xuất gia vào chùa Long Thành ở Trà Cú được Hòa thượng Thiện Trí mến thương đặt danh pháp là Thiện Hải. Ngoài giờ học Phật pháp, Ngài lại được Hòa thượng cho học thêm y học.
09/04/2013(Xem: 8888)
Hòa thượng Thích Phúc Hộ, thế danh là Huỳnh Văn Nghĩa, sinh ngày 24 tháng 7 năm Giáp Thìn (1904) đời vua Thành Thái năm thứ 16 tại làng Triều Sơn, xã Xuân Thọ, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên. Song thân của Ngài là cụ ông Huỳnh Trung và cụ bà Trần Thị Nho.
09/04/2013(Xem: 10088)
Chùa Thập Tháp là một trong số các ngôi tổ đình nổi tiếng của đất Bình Định Nếu như ở thời kỳ khởi đầu, ngôi tổ đình ấy được chú ý nhiều vì vị khai sơn là Thiền sư Nguyên Thiều - người có công lớn trong sứ mạng truyền bá Phật giáo ở Đàng Trong thời Nam Bắc phân tranh, hậu bán thế kỷ 17 ; thì vào thời hiện đại, tổ đình Thập Tháp được cả nước biết đến vì sự có mặt của Quốc sư Phước Huệ (1869-1945).
09/04/2013(Xem: 10038)
Ngài đã nêu cao tinh thần Bi, Trí, Dũng phục vụ chúng sinh, cống hiến trọn vẹn đời mình cho sự nghiệp chung của đạo pháp và dân tộc Việt Nam. Hòa thượng Thích Trừng San, pháp tự Minh Hiền, hiệu Hải Tuệ, thế danh Nguyễn San sau đổi là Trần Văn Lâu, nối pháp đời thứ 42 dòng Lâm Tế Liễu Quán. Ngài sinh năm Nhâm Tuất (1922), tại thôn Phú Khánh, xã Diên Thạnh, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa. Năm lên 8 tuổi, được song thân cho xuất gia học đạo với Hòa thượng Phổ Hiện, tại chùa Khánh Long, Diên Khánh. Sau khi Bổn sư viên tịch, Ngài y chỉ với Hòa thượng Chánh Ký, kế vị trụ trì chùa Khánh Long. Năm 1943 được y chỉ sư gửi đến thọ giáo với Hòa thượng Bích Không, trụ trì chùa Hải Đức (Nha Trang).