Tiễn bước người đi

14/06/201619:50(Xem: 9114)
Tiễn bước người đi


thich nu dieu hue
TIỄN BƯỚC NGƯỜI ĐI

(Tâm tình cảm niệm Giác Linh SC. Diệu Huệ)

Xa gần vang vọng tiếng tụng Kinh

Hoa trắng ngậm ngùi tiễn Giác Linh

Tôi nghe giọng nói ai thổn thức

Tôi thấy mắt xanh đượm lệ tình….

 

Sư Cô Diệu Huệ đã ra đi thật rồi! Tôi còn bàng hoàng như người vừa tỉnh mộng. Người ra đi chóng thế sao? Chiều hôm kia, khi cùng Thầy Trụ Trì và Tăng Đoàn Chùa Giác Ngộ đến với giây phút tạ từ và trong thời trợ niệm cho Sư Cô tôi thấy Sư Cô biểu hiện xúc động trên khuôn mặt và trong hơi thở gấp gáp. Sư Cô tuy không đủ sức nói hoặc cử động nhiều được nữa nhưng vẫn cảm nhận những âm thanh quen thuộc, cảnh sắc và ý thức được rằng chư Tăng đang vân tập để an ủi, chia sẻ, hộ niệm cho mình trong bước đăng trình. Sắc mặt Sư Cô vẫn còn tươi lắm, thế mà sau khi xong thời Kinh trợ niệm, tôi về phòng và đi công việc trong chốc lát, khi trở về Chùa Giác Ngộ thì hay tin rằng  : Sư Cô đã viên tịch. Nhanh thật, mới vào bệnh viện được 2 hôm, hôm qua còn tỉnh táo nói năng nhắn nhủ được, hôm nay đã ra đi rồi…!

Tôi có duyên vào ở và sinh hoạt Phật sự tại Chùa Giác Ngộ suốt 10 tháng qua – thời gian đủ để tiếp xúc, sống và có kỷ niệm với các thành viên trong Tăng Đoàn nhất là đối với Sư Cô. Sư Cô là người đặc biệt, là người Ni duy nhất được trú trong Chùa Giác Ngộ kể từ khi xuất gia với Cố Hòa Thượng Trụ Trì từ 25 năm về trước. Tôi gặp Sư Cô mỗi khi đến quá đường thọ trai, Sư Cô tuy già trên 70 tuổi nhưng vần tham gia Ban Hành Đường và dọn đồ ăn lên bàn ở Trai Đường mỗi bữa. Có lúc tôi ái ngại bảo Sư Cô : “Sư Cô già yếu rồi thì cứ nghỉ ngơi đi, việc hành đường có các chú làm được rồi”. Sư Cô trả lời : “Dạ, con già rồi cũng rảnh không làm gì, làm được cái gì thì con làm, các chú còn bận rộn việc học, con cũng cần vận động thân thể”. Sư Cô quả thật là người tinh tấn, cần mẫn, ý thức lo cho đại chúng, suy nghĩ thật chín chắn, quên mình vì người khác. Trong những ngày đầu tôi đến Chùa Giác Ngộ, Sư Cô gõ cửa và tặng tôi dao, kéo với băng keo dán. Tôi hơi ngạc nhiên và cảm kích. Sư Cô chu đáo và thật tinh tế. Quả thật những món này tôi sử dụng rất nhiều sau này tại phòng mình.

Tôi ở phòng kế ngay Sư Cô cho nên 2 người lân cận tự nhiên quan tâm cho nhau rất nhiều. Sư Cô nhường đường mỗi khi tôi xuống cầu thang, đứng dậy xá chào mỗi khi tôi đi ngang qua nhà bếp, hỏi thăm sức khỏe tôi mỗi khi tôi đi công việc Phật sự vài ngày bên ngoài. Thậm chí có lúc Sư Cô lo lắng gõ cửa tôi và hỏi thăm khi thấy có dép tôi bên ngoài mà tôi lại không thọ trai (ăn) vài ngày vì Sư Cô không biết đó là dép cũ tôi bỏ lại và đi công việc bên ngoài mang dép khác. Tôi cũng rất quan tâm nhịp điệu sống của Sư Cô : cẩn thận hạ nhỏ âm thanh khi nghe Pháp Âm, Paltalk, điện thoại vào ban đêm để âm thanh không vang vọng qua bên kia phòng quấy nhiễu Sư Cô, mỗi sáng sớm khi bước vào chánh điện cho thời công phu khuya là gặp Sư Cô tại đó, Sư Cô còn đánh trống hoặc gõ mõ hỗ trợ khi tôi làm chủ lễ. Đến giờ này, hình ảnh Sư Cô hiện rõ mồn một trong tâm trí tôi : đó là một vị Ni tuy lớn tuổi, mảnh khảnh nhưng nhanh nhẹn, cần mẫn đều đặn, mỉm cười dễ thương như hoa hàm tiếu, luôn hòa nhã, nhỏ nhẹ, chưa bao giờ tôi thấy buồn giận, bất mãn hoặc tranh cãi với ai, tôn kính Bát Kính Pháp khi sinh hoạt chung trong Tăng Đoàn, tự giác ý thức nhân quả và cố gắng làm tất cả những gì mà tuổi tác và sức khỏe cho phép, khiêm hạ và luôn nghĩ tốt về người khác,…


thich nu dieu hue-2thich nu dieu hue-3thich nu dieu hue-4




Trong thời Kinh trợ niệm trước khi Sư Cô viên tịch và thời tụng niệm cho Giác Linh Sư Cô cũng như Lễ Thọ Tang cho người thân Sư Cô sau khi viên tịch, tôi đã vận hết tâm thành gửi gắm trong tiếng Kệ lời Kinh và nhìn vào Sư Cô muốn nói : “Sư Cô ơi! Nhân sinh thất thập cổ lai hy, Sư Cô đã 74 tuổi rồi cũng gọi là đã thọ, duyên trần nay đã mãn. Thế là từ nay tôi mất đi một “người láng giềng” thân cận nhất. Tôi vẫn còn nhớ đến mãi bước chân, hình bóng tụng kinh, dáng đứng chắp tay chào và nụ cười hiền hòa đầy Thiền vị của Sư Cô. Giờ phút này đây, trước bước chia xa, người đời thì “tiền lộ mang mang vị tri hà vãng” (đường dài man mác trước mắt chưa biết sẽ về đâu), còn Sư Cô thì tôi tin là đã tỏ đường đi lối về. Trách nhiệm ngoài đời Sư Cô đã lo tròn xong trước khi vào chùa xuất gia, con cái Sư Cô trưởng thành và ổn định cuộc sống sự nghiệp đàng hoàng, Giờ này Chư Tăng quen biết các nơi đều trở về Chùa Giác Ngộ để viếng thăm và trợ tiến cho Giác Linh Sư Cô lần cuối. Công đức của Sư Cô đã trổ quả hiện rõ : bao nhiêu năm tháng lo cho Quỹ Thiện Nguyện Đạo Phật Ngày Nay, từng ngày lo cho việc ghi danh Trường Lớp Học và sách vở, việc học hành của Quý Thầy Quý Chú, công quả hàng ngày nơi nhà bếp, trai đường, công phu sớm hôm nơi phòng và chánh điện,…đã thôi thúc bao nhiêu người bỏ hết công việc, chẳng quản ngại đường xa đến kính viếng Giác Linh Sư Cô. Người đi dấu vết chưa nhòa, hoa Đàm tuy rụng vẫn còn ngát hương, một tấm gương sáng trọn vẹn nghĩa tình của người Mẹ, người Bà, một thành viên gương mẫu tích cực trong Tăng Đoàn vô ngã vị tha, tinh tấn dấn thân phụng sự Đạo Pháp và Đại chúng, một tấm gương ham học, “duy Tuệ thị nghiệp” dù quá tuổi 50 vẫn đi học hàng ngày tiếng Hán, tiếng Hoa ở Lớp Dịch Thuật Huệ Quang là tiếng chuông nhắc nhở cho mọi người tinh cần, trừ buông lung, phóng dật, gieo trồng hạt giống Trí Tuệ để tu tập hoàn thiện mình, giải thoát, không thành công cũng thành nhân, đó là thân giáo, ý giáo, khiến cho bao nhiêu người tiếp xúc với Sư Cô cảnh tỉnh mà lo trau dồi bổn phận mình, luôn vươn lên, phấn đấu làm tốt Đạo, đẹp Đời.

Ngày mai đây sẽ đến Lễ Di Quan, sắc uẩn này sẽ gửi lại cho đời, cát bụi sẽ trở về với cát bụi, Chùa Giác Ngộ nay vắng bóng Sư Cô rồi,một sự mất mát trống vắng khó mà thay thế được, chỉ còn lung linh di ảnh nhang khói phủ mờ nhưng sự hiện diện trong kiếp nhân sinh kết tinh thành một bức chân dung Chân – Thiện – Mỹ vẫn còn mãi trong tâm khảm bao nhiêu người. Cảm ơn Sư Cô, cảm ơn cuộc hội ngộ này, tôi vẫn còn giữ mãi nơi đây những kỷ vật và kỷ niệm ân tình như lởi nhắc nhở thường trực : rồi một ngày Ta sẽ đi xa, rồi Ta cũng thế, cơn vô thường sinh ly tử biệt sẽ xảy đến với tất cả, hãy nói, hãy làm, hãy ban tặng cho nhau những gì có thể ngay trong hôm nay, nào ai biết được ngày mai Ta có còn không? Tôi không còn gặp Sư Cô trong hình hài đó nữa nhưng tôi luôn gặp Sư Cô lung linh với một hình ảnh đẹp, lặng lẽ, phụng sự, tích cực tô bồi cho người, cho đời, cho Đạo Pháp trong từng suy nghĩ, trong từng việc làm. Làm sao để sống an lạc và ra đi thanh thản, không phiền lụy đến người thân? Không nhất thiết phải huyên náo, đâu cần phải rộn ràng, không cố tình lưu sách sử ca tụng chói lọi, Sư Cô là một đóa hoa sen nép mình lặng lẽ : hữu xạ tự nhiên hương và mãi là dóng sông âm thầm chảy bồi đắp phù sa nuôi sự sống bao loài.

Thành tâm cầu nguyện Giác Linh Sư Cô cao đăng Phật Quốc, thượng Phẩm thượng Sanh, bất vi bôn thệ, hồi nhập Ta Bà, chúng ta cùng làm quyến thuộc trong Đạo Pháp và tùy duyên ứng hóa cho Pháp Luân thường chuyển, lợi lạc quần sanh.

Thị hiện bao năm giữa cõi đời

Lành thay! Gương sáng mãi còn soi

Diệu Pháp tham cầu không chểnh mảng

Huệ Trí đưa thuyền vượt bể khơi


Chùa Giác Ngộ, đêm 13/06/2016 PL 2560

Thích Đồng Trí.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
04/09/2010(Xem: 9248)
"Cây héo vào xuân hoa nỡ rộ Gió đưa nghìn dặm nức hương thần." Thiền Uyển Tập Anh ( Anh Tú Vườn Thiền) ghi về sư như sau: " Thiền Sư Viên Chiếu (999-1090) thuộc thế hệ thứ bảy dòng Vô Ngôn Thông.Thiền Sư họ Mai, tên Trực người huyện Long Đàm châu Phúc Điền, là con người anh thái hậu Linh Cảm đời Lý. Thuở nhỏ ông thông minh mẫn tuệ, hiếu học. Nghe tiếng trưỡng lão ở chùa Mật Nghiêm giỏi xem tướng, ông bèn đến nhờ xem hộ.
21/08/2010(Xem: 15512)
Tại một ngôi chùa Việt ở Bangkok (Thái Lan), nhục thân của Hòa thượng Thích Phổ Sái vẫn còn nguyên vẹn hình hài sau hơn 50 năm kể từ khi ngài viên tịch. Tọa lạc tại khu Yaowarat (khu phố Tàu) ở Bangkok, ngôi chùa mang tên rất Việt Nam là Khánh Vân có một lịch sử lâu đời do các Hòa thượng người Việt thành lập. Đây là một trong những ngôi chùa Việt thuộc hệ Annamnikaya hay còn gọi là An Nam Tông ở Bangkok. Chính tại chùa Khánh Vân này, nhục thân của Hòa thượng Thích Phổ Sái (pháp danh Giác Lượng), một nhà tu hành gốc Việt, được lưu giữ và thờ cúng.
18/07/2010(Xem: 9843)
Kính bạch Sư Tổ! Chúng con đang tập tiếp xúc với Người qua hình ảnh một bậc thầy già chốn núi rừng Dương Xuân. Một túp liều tranh, một bà mẹ già và với ba người đệ tử. Đó là khoảng thời gian hạnh phúc nhất của Sư Tổ. Người có thời gian chăm sóc mẹ già và trao truyền những hoa trái tu học cho những người học trò yêu quý. Xuất thân từ làng Trung Kiên – một vùng đất Phật giáo ở Quảng Trị, Sư Tổ đã đến chùa Thiên Thọ (Báo Quốc) núi Hàm Long – Huế, để xuất gia học đạo với Thiền sư Phổ Tịnh, lúc đó Người chỉ mới lên bảy tuổi. Đến năm 30 tuổi, nhận thấy nơi Sư Tổ có chí khí của một bậc Xuất trần nên Sư Tổ được Bổn sư phú pháp truyền đăng với bài kệ: Nhất Định chiếu quang minh Hư không nguyệt mãn viên Tổ tổ truyền phú chúc Đạo Minh kế Tánh Thiên.
04/07/2010(Xem: 13799)
-Người đi tiên phong và nỗ lực không mệt mỏi cho sự nghiệp phát triển trí tuệ, từ bi và hòa bình- -Nhà lãnh đạo toàn cầu trong phong trào vì hòa bình, nhân quyền và sức khỏe cộng đồng-
14/06/2010(Xem: 8354)
Hòa Thượng Thích Bích Nguyên là một trong những bậc cao Tăng thạc đức của Phật giáo Lâm Đồng. Ngài họ Nguyễn, húy là Tùng, sinh năm 1898 tại làng Duy Hòa, xã Triệu Hòa, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Thuở nhỏ, bẩm chất thông minh, đĩnh ngộ. Thời tráng niên, lập nghiệp ở Lào, Hòa Thượng nhân đọc báo Từ Bi Âm mà ngộ đạo, thấy rõ cuộc đời vô thường, nuôi chí xuất gia. Đến năm 29 tuổi (1927), Hòa Thượng mới có đủ nhân duyên đầu sư thọ giáo với Hòa Thượng PHƯỚC HUỆ, Trú trì chùa Hải Đức, Huế và đắc giới Sa di năm 1934. Năm 1936, ngài thọ Cụ túc giới với pháp hiệu BÍCH NGUYÊN, rồi theo học ở các lớp Phật học tại các Phật học viện Hải Đức, Bảo Quốc và Ấn Quang.
15/05/2010(Xem: 8057)
Thiền sư Khánh Hòa sinh năm 1877 tại làng Phú Lễ tỉnh bến Tre, xuất gia năm 19 tuổi tại chùa Khải Tường. Chí nguyện chấn hưng Phật giáo của ông phát sinh vào khoảng năm ông được bốn mươi tuổi. Ông du hành khắp các tổ đình và Nam Kỳ để gây ý thức chấn hưng và kêu gọi sự hợp tác của các bậc tôn túc.
19/03/2010(Xem: 10098)
Một cặp kính trắng với sợi dây vòng ra sau cổ, năm ba con khỉ nhảy tung tăng trên vai, trên đầu, tóc tai rối rắm, áo quần cái dài, cái ngắn, kiểu đàn ông, đàn bà, đầy màu sắc sặc sỡ …đây là dáng người anh Bùi Giáng chúng ta thường gặp trên những nẽo đường Sài Gòn năm 1975 … Sau năm 1975 , anh Bùi Giáng về ở chung với chúng tôi trong nội xá viện Đại học Vạn Hạnh cũ (222 Trương Minh Giảng, nay là Lê Văn Sĩ). Vào thời điểm này, Đại học Vạn Hạnh không còn hoạt động, nên nội xá chỉ còn một số ít người ở lại với Hòa thượng Viện trưởng Thích Minh Châu. Chúng tôi quản lý chung, chú Chơn Thuần đi chợ và thị giả cho Hòa thượng Viện trưởng, anh Trần Châu phụ trách an ninh, anh Bùi Giáng thì nhận nhiệm vụ đi mua lương thực.
10/03/2010(Xem: 8799)
Bản thân tôi (Tín Nghĩa), rất ít có dịp thân cận với Ôn Già Lam. Điều dễ hiểu, vì tôi không xuất thân từ Phật Học Viện. Vả lại, mỗi lần Ôn về Huế (Bảo Quốc), thường vào dịp đầu xuân, thì đa phần Ôn hay đàm luận Phật sự với quý Ôn lớn như Ôn Linh Mụ, Ôn Trúc Lâm, Ôn Linh Quang, Ôn Từ Đàm và Ôn Bảo Quốc, . . . Đầu năm, Ôn thường hay nghe Đại luật (tức là dạy luật Tứ phần) cho hai chúng Tỳ kheo và Tỳ kheo ni, thì tôi đạp xe ra học rồi về lại chùa. Vả lại, bổn phận của tôi ở chúng Trúc Lâm cũng tương đối bề bộn. Tuy thế, chính tôi lại có với Ôn ba kỷ niệm khó quên.
10/03/2010(Xem: 12047)
Bây giờ là những ngày cuối năm âm lịch. Thiên hạ cùng viết về Xuân, Tết. Tôi muốn viết về Ôn Già Lam và Tu viện Quảng Hương Già Lam. Ôn Già Lam là cách gọi tôn kính của những môn đệ và phật-tử hướng về Đại lão Hòa thượng Thích Trí Thủ, vị viện chủ sáng lập tu viện. Trong tu viện, tăng chúng khi nói về ngài thì chỉ dùng chữ “Ôn” một cách gần gũi. Còn tu viện Quảng Hương Già Lam thì vẫn thường được gọi với cái tên thật ngắn: chùa Già Lam.