Tiễn bước người đi

14/06/201619:50(Xem: 9106)
Tiễn bước người đi


thich nu dieu hue
TIỄN BƯỚC NGƯỜI ĐI

(Tâm tình cảm niệm Giác Linh SC. Diệu Huệ)

Xa gần vang vọng tiếng tụng Kinh

Hoa trắng ngậm ngùi tiễn Giác Linh

Tôi nghe giọng nói ai thổn thức

Tôi thấy mắt xanh đượm lệ tình….

 

Sư Cô Diệu Huệ đã ra đi thật rồi! Tôi còn bàng hoàng như người vừa tỉnh mộng. Người ra đi chóng thế sao? Chiều hôm kia, khi cùng Thầy Trụ Trì và Tăng Đoàn Chùa Giác Ngộ đến với giây phút tạ từ và trong thời trợ niệm cho Sư Cô tôi thấy Sư Cô biểu hiện xúc động trên khuôn mặt và trong hơi thở gấp gáp. Sư Cô tuy không đủ sức nói hoặc cử động nhiều được nữa nhưng vẫn cảm nhận những âm thanh quen thuộc, cảnh sắc và ý thức được rằng chư Tăng đang vân tập để an ủi, chia sẻ, hộ niệm cho mình trong bước đăng trình. Sắc mặt Sư Cô vẫn còn tươi lắm, thế mà sau khi xong thời Kinh trợ niệm, tôi về phòng và đi công việc trong chốc lát, khi trở về Chùa Giác Ngộ thì hay tin rằng  : Sư Cô đã viên tịch. Nhanh thật, mới vào bệnh viện được 2 hôm, hôm qua còn tỉnh táo nói năng nhắn nhủ được, hôm nay đã ra đi rồi…!

Tôi có duyên vào ở và sinh hoạt Phật sự tại Chùa Giác Ngộ suốt 10 tháng qua – thời gian đủ để tiếp xúc, sống và có kỷ niệm với các thành viên trong Tăng Đoàn nhất là đối với Sư Cô. Sư Cô là người đặc biệt, là người Ni duy nhất được trú trong Chùa Giác Ngộ kể từ khi xuất gia với Cố Hòa Thượng Trụ Trì từ 25 năm về trước. Tôi gặp Sư Cô mỗi khi đến quá đường thọ trai, Sư Cô tuy già trên 70 tuổi nhưng vần tham gia Ban Hành Đường và dọn đồ ăn lên bàn ở Trai Đường mỗi bữa. Có lúc tôi ái ngại bảo Sư Cô : “Sư Cô già yếu rồi thì cứ nghỉ ngơi đi, việc hành đường có các chú làm được rồi”. Sư Cô trả lời : “Dạ, con già rồi cũng rảnh không làm gì, làm được cái gì thì con làm, các chú còn bận rộn việc học, con cũng cần vận động thân thể”. Sư Cô quả thật là người tinh tấn, cần mẫn, ý thức lo cho đại chúng, suy nghĩ thật chín chắn, quên mình vì người khác. Trong những ngày đầu tôi đến Chùa Giác Ngộ, Sư Cô gõ cửa và tặng tôi dao, kéo với băng keo dán. Tôi hơi ngạc nhiên và cảm kích. Sư Cô chu đáo và thật tinh tế. Quả thật những món này tôi sử dụng rất nhiều sau này tại phòng mình.

Tôi ở phòng kế ngay Sư Cô cho nên 2 người lân cận tự nhiên quan tâm cho nhau rất nhiều. Sư Cô nhường đường mỗi khi tôi xuống cầu thang, đứng dậy xá chào mỗi khi tôi đi ngang qua nhà bếp, hỏi thăm sức khỏe tôi mỗi khi tôi đi công việc Phật sự vài ngày bên ngoài. Thậm chí có lúc Sư Cô lo lắng gõ cửa tôi và hỏi thăm khi thấy có dép tôi bên ngoài mà tôi lại không thọ trai (ăn) vài ngày vì Sư Cô không biết đó là dép cũ tôi bỏ lại và đi công việc bên ngoài mang dép khác. Tôi cũng rất quan tâm nhịp điệu sống của Sư Cô : cẩn thận hạ nhỏ âm thanh khi nghe Pháp Âm, Paltalk, điện thoại vào ban đêm để âm thanh không vang vọng qua bên kia phòng quấy nhiễu Sư Cô, mỗi sáng sớm khi bước vào chánh điện cho thời công phu khuya là gặp Sư Cô tại đó, Sư Cô còn đánh trống hoặc gõ mõ hỗ trợ khi tôi làm chủ lễ. Đến giờ này, hình ảnh Sư Cô hiện rõ mồn một trong tâm trí tôi : đó là một vị Ni tuy lớn tuổi, mảnh khảnh nhưng nhanh nhẹn, cần mẫn đều đặn, mỉm cười dễ thương như hoa hàm tiếu, luôn hòa nhã, nhỏ nhẹ, chưa bao giờ tôi thấy buồn giận, bất mãn hoặc tranh cãi với ai, tôn kính Bát Kính Pháp khi sinh hoạt chung trong Tăng Đoàn, tự giác ý thức nhân quả và cố gắng làm tất cả những gì mà tuổi tác và sức khỏe cho phép, khiêm hạ và luôn nghĩ tốt về người khác,…


thich nu dieu hue-2thich nu dieu hue-3thich nu dieu hue-4




Trong thời Kinh trợ niệm trước khi Sư Cô viên tịch và thời tụng niệm cho Giác Linh Sư Cô cũng như Lễ Thọ Tang cho người thân Sư Cô sau khi viên tịch, tôi đã vận hết tâm thành gửi gắm trong tiếng Kệ lời Kinh và nhìn vào Sư Cô muốn nói : “Sư Cô ơi! Nhân sinh thất thập cổ lai hy, Sư Cô đã 74 tuổi rồi cũng gọi là đã thọ, duyên trần nay đã mãn. Thế là từ nay tôi mất đi một “người láng giềng” thân cận nhất. Tôi vẫn còn nhớ đến mãi bước chân, hình bóng tụng kinh, dáng đứng chắp tay chào và nụ cười hiền hòa đầy Thiền vị của Sư Cô. Giờ phút này đây, trước bước chia xa, người đời thì “tiền lộ mang mang vị tri hà vãng” (đường dài man mác trước mắt chưa biết sẽ về đâu), còn Sư Cô thì tôi tin là đã tỏ đường đi lối về. Trách nhiệm ngoài đời Sư Cô đã lo tròn xong trước khi vào chùa xuất gia, con cái Sư Cô trưởng thành và ổn định cuộc sống sự nghiệp đàng hoàng, Giờ này Chư Tăng quen biết các nơi đều trở về Chùa Giác Ngộ để viếng thăm và trợ tiến cho Giác Linh Sư Cô lần cuối. Công đức của Sư Cô đã trổ quả hiện rõ : bao nhiêu năm tháng lo cho Quỹ Thiện Nguyện Đạo Phật Ngày Nay, từng ngày lo cho việc ghi danh Trường Lớp Học và sách vở, việc học hành của Quý Thầy Quý Chú, công quả hàng ngày nơi nhà bếp, trai đường, công phu sớm hôm nơi phòng và chánh điện,…đã thôi thúc bao nhiêu người bỏ hết công việc, chẳng quản ngại đường xa đến kính viếng Giác Linh Sư Cô. Người đi dấu vết chưa nhòa, hoa Đàm tuy rụng vẫn còn ngát hương, một tấm gương sáng trọn vẹn nghĩa tình của người Mẹ, người Bà, một thành viên gương mẫu tích cực trong Tăng Đoàn vô ngã vị tha, tinh tấn dấn thân phụng sự Đạo Pháp và Đại chúng, một tấm gương ham học, “duy Tuệ thị nghiệp” dù quá tuổi 50 vẫn đi học hàng ngày tiếng Hán, tiếng Hoa ở Lớp Dịch Thuật Huệ Quang là tiếng chuông nhắc nhở cho mọi người tinh cần, trừ buông lung, phóng dật, gieo trồng hạt giống Trí Tuệ để tu tập hoàn thiện mình, giải thoát, không thành công cũng thành nhân, đó là thân giáo, ý giáo, khiến cho bao nhiêu người tiếp xúc với Sư Cô cảnh tỉnh mà lo trau dồi bổn phận mình, luôn vươn lên, phấn đấu làm tốt Đạo, đẹp Đời.

Ngày mai đây sẽ đến Lễ Di Quan, sắc uẩn này sẽ gửi lại cho đời, cát bụi sẽ trở về với cát bụi, Chùa Giác Ngộ nay vắng bóng Sư Cô rồi,một sự mất mát trống vắng khó mà thay thế được, chỉ còn lung linh di ảnh nhang khói phủ mờ nhưng sự hiện diện trong kiếp nhân sinh kết tinh thành một bức chân dung Chân – Thiện – Mỹ vẫn còn mãi trong tâm khảm bao nhiêu người. Cảm ơn Sư Cô, cảm ơn cuộc hội ngộ này, tôi vẫn còn giữ mãi nơi đây những kỷ vật và kỷ niệm ân tình như lởi nhắc nhở thường trực : rồi một ngày Ta sẽ đi xa, rồi Ta cũng thế, cơn vô thường sinh ly tử biệt sẽ xảy đến với tất cả, hãy nói, hãy làm, hãy ban tặng cho nhau những gì có thể ngay trong hôm nay, nào ai biết được ngày mai Ta có còn không? Tôi không còn gặp Sư Cô trong hình hài đó nữa nhưng tôi luôn gặp Sư Cô lung linh với một hình ảnh đẹp, lặng lẽ, phụng sự, tích cực tô bồi cho người, cho đời, cho Đạo Pháp trong từng suy nghĩ, trong từng việc làm. Làm sao để sống an lạc và ra đi thanh thản, không phiền lụy đến người thân? Không nhất thiết phải huyên náo, đâu cần phải rộn ràng, không cố tình lưu sách sử ca tụng chói lọi, Sư Cô là một đóa hoa sen nép mình lặng lẽ : hữu xạ tự nhiên hương và mãi là dóng sông âm thầm chảy bồi đắp phù sa nuôi sự sống bao loài.

Thành tâm cầu nguyện Giác Linh Sư Cô cao đăng Phật Quốc, thượng Phẩm thượng Sanh, bất vi bôn thệ, hồi nhập Ta Bà, chúng ta cùng làm quyến thuộc trong Đạo Pháp và tùy duyên ứng hóa cho Pháp Luân thường chuyển, lợi lạc quần sanh.

Thị hiện bao năm giữa cõi đời

Lành thay! Gương sáng mãi còn soi

Diệu Pháp tham cầu không chểnh mảng

Huệ Trí đưa thuyền vượt bể khơi


Chùa Giác Ngộ, đêm 13/06/2016 PL 2560

Thích Đồng Trí.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
21/02/2013(Xem: 9676)
Hòa thượng Thích Tâm Giác, thế danh là Trần Văn Mỹ, sinh năm 1917 tại tỉnh Nam Định, thân phụ là cụ ông Trần Văn Quý, thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Suôi. Ngài là con trai thứ hai trong gia đình gồm hai trai một gái. Ngài sinh trưởng trong một gia đình Nho phong. Thân phụ Ngài tinh thông Hán học. Cả hai ông bà lại rất thâm tín Phật pháp. Do đó, Ngài được hấp thụ ngay từ thuở ấu thơ hai nền văn hóa cổ truyền của dân tộc là Khổng giáo và Phật giáo.
19/02/2013(Xem: 11482)
Mới đây các nhà khảo cổ Mỹ và Canada đưa ra chứng cứ cho rằng Phật giáo đã được truyền vào Mỹ trước khi ông Columbus tìm ra châu Mỹ. Tuy nhiên, theo các tài liệu có được hiện nay thì Phật giáo chỉ thật sự có mặt tại Mỹ sau kỳ Đại hội Tôn giáo Thế giới tổ chức tại bang Chicago vào năm 1893. Nhưng ai là người có công truyền bá và làm lớn mạnh "hạt giống Bồ đề" trên đất Mỹ? Trong bài này, chúng tôi sẽ giới thiệu một số nhà sư cư sĩ người châu Á, những người tiên phong có công đặt nền móng xây dựng ngôi nhà chánh pháp trên đất Mỹ.
10/02/2013(Xem: 12838)
Từ những con người bình thường, không được sinh ra ở cung vàng điện ngọc, nhưng rồi trở thành những vị vua anh minh tài kiêm văn võ, tư tưởng và nhân cách cao siêu, mãi còn đọng lại với thời gian. Dù sống ở hoàng cung nhưng tâm lúc nào cũng vượt thoát, làm bậc đế vương nhưng hạnh vẫn là một sơn Tăng, ưa vui với gió nội mây ngàn, thở nhịp cùng đất trời nhân gian cây cỏ. Để rồi trở thành những người con Phật vĩ đại, trí tuệ và công hạnh thắm đượm cả không gian, thức tỉnh chúng ta trên bến bờ sinh tử của mê ngộ, đậm nét trong lòng người đến tận hôm nay. Bồ Tát Lương Võ Đế ( 463-549 ) của Trung Hoa và Trần Thái Tông ( 1218-1277) của Việt Nam, dù ở hai phương trời xa cách, sinh ra ở hai thời điểm khác nhau, nhưng cùng chung một tấm lòng, mang an lạc thịnh vượng đến cho nhân dân, và một hạnh nguyện chuyển hoá cứu độ quần sanh.
07/02/2013(Xem: 24185)
Nửa thế kỷ Tôn Sư vắng bóng, Ánh Đạo Vàng tỏa rộng muôn phương Hôm nay tổ chức huy hoàn Hằng năm kỷ niệm, đàn tràng tôn nghiêm. Môn đồ Tứ chúng ngưỡng chiêm,
06/02/2013(Xem: 10143)
Hòa thượng Bích Liên, thế danh là Nguyễn Trọng Khải, hiệu Mai Đình (Thận Thần Thị), sinh ngày 16 tháng 3 năm Bính Tý (1876), tại làng Háo Đức, phủ An Nhơn, nay là ấp Háo Đức, xã Nhơn An, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. Ngài sinh trưởng trong một gia đình nho học, được theo nghiệp bút nghiên từ nhỏ. Cha là Tú Tài Nguyễn Tự, mẹ là bà Lâm Thị Hòa Nghị . Năm 20 tuổi, Ngài lập gia đình với cô Lê Thị Hồng Kiều, người làng An Hòa, (nay thuộc xã Nhơn Khánh cùng huyện). Năm 31 tuổi, Ngài lều chõng vào trường thi Hương Bình Định và đỗ Tú Tài. Ba năm sau, Ngài lại đỗ Tú Tài lần nữa. Từ đó, biết mình long đong trên bước đường khoa bảng, Ngài giã từ lều chõng, ở nhà mở trường dạy học, mượn trăng thanh gió mát di dưỡng tính tình, lấy chén rượu câu thơ vui cùng tuế nguyệt.
03/02/2013(Xem: 8633)
Tuệ Sỹ là ai mà thơ hào sảng, hùng tâm tráng khí như thế ? Tuệ Sỹ quê Quảng Bình, sinh năm 1943, nhỏ hơn Phạm Công Thiện 2 tuổi, cũng là một bậc thiên tài xuất chúng, làu thông kinh điển Nguyên thủy, Đại thừa và nhiều thứ tiếng Anh, Pháp, Đức, Hán, Phạn, Pali. Khi mới vừa 26 tuổi đã viết Triết học về Tánh Không làm chấn động giới văn nghệ sĩ, học giả, thiện tri thức Việt Nam thời bấy giờ.
20/01/2013(Xem: 8543)
Phạm Công Thiện(1/6/1941 - 8/3/2011), là một nhà văn, triết gia, học giả, thi sĩ và cư sĩ Phật Giáo người Việt Nam với pháp danh Thích Nguyên Tánh. Tuy nhận mình là nhà thơ và phủ nhận nghề triết gia, ông vẫn được coi là một triết gia thần đồng, một hiện tượng dị thường của Sài Gòn thập niên 60 và của Việt Nam với những tư tưởng ít người hiểu và được bộc phát từ hồi còn rất trẻ. Dưới đây là bài viết của Tâm Nhiên nhân sắp đến ngày giỗ của ông.
12/01/2013(Xem: 8426)
Đã có rất nhiều sách vở, bài viết hoặc với tính chất nghiên cứu, hoặc là các bài giảng phổ cập bàn về tông Thiên Thai và kinh Pháp Hoa. Bài viết này nói đến vai trò, vị trí của Đại sư Trí Khải và tông Thiên Thai trong lịch sử Phật giáo, cũng như trong nền văn hóa tư tưởng của toàn thể nhân loại. Đại sư Trí Khải sinh năm 538, vào thời đại mà sau này các sử gia gọi là Nam Bắc triều (220-589). Sông Dương Tử được lấy làm gianh giới phân chia giữa hai miền Nam và Bắc. Trong thiền sử, ta thường nghe nói đến câu Nam Năng (Huệ Năng)-Bắc Tú (Thần Tú), để phân biệt hai dòng thiền: Đại sư Thần Tú xiển dương Thiền tiệm ngộ ngay tại Trường An; Đại sư Huệ Năng phát triển Thiền đốn ngộ tại vùng Quảng Đông và lân cận. Bấy giờ Trung Hoa bị chia thành nhiều nước nhỏ, nước này xâm lăng và thôn tính nước kia, gây nên nhiều cuộc chiến tương tàn, dân chúng sống trong cảnh lầm than đau khổ.
07/01/2013(Xem: 9604)
Phần lớn độc giả biết nhiều đến các tiểu luận và các tập thơ phản chiến, nhưng ít người biết đến những bài thơ Thiền của Nhất Hạnh. Tôi xin trích một bài được nhà xuất bản Unicorn Press xuất bản trong tâp thơ Zen Poems của Nhất Hạnh vào năm 1976 (bản dịch Anh Ngữ) của Võ Đình. Bài này được in vào tuyển tập thơ nhạc họa vào mùa Phật Đản 1964
10/12/2012(Xem: 9915)
Cả cuộc đời 86 tuổi của Ngài Đội trời đạp đất, đã tròn chưa bản nguyện Kiếp tu hành 81 năm của Ngài Gánh vác hy sinh...