Cảm Niệm Tri Ân HT Thích Như Huệ

07/05/201619:40(Xem: 10202)
Cảm Niệm Tri Ân HT Thích Như Huệ

Tri an HT Thich Nhu Hue (2)

CẢM NIỆM TRI ÂN

Kính dâng Đức Trưởng Lão HT Thích Như Huệ

 

 

Nam Mô Thập Phương Thường Trụ Tam Bảo tác đại chứng minh.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật tác đại chứng minh.

Thay mặt toàn thể Huynh Trưởng Đoàn sinh Gia Đình Phật Tử Việt Nam Tại Úc Đại Lợi chúng con thành kính đảnh lễ bái bạch:

-  Đức Trưởng lão Hòa thượng Tăng giáo trưởng GHPGVN TN Hải Ngoại Tại Úc Đại Lợi-Tân Tây Lan, Hòa Thượng thượng Huyền hạ Tôn

-  Hòa Thượng Hội Chủ GHPGVN TN Hải Ngoại Tại Úc Đại Lợi-Tân Tây Lan, Hòa Thượng thượng  Bảo hạ Lạc

- Chư Tôn Đức trong Hội Đồng Giáo Phẩm Hội Đồng Điều Hành GHPGVNTH Hải Ngoại Tại Úc Đại Lợi -Tân Tây Lan

Cùng Chư Tôn Hòa Thượng, Chư Thượng Tọa Đại Đức Tăng, Ni hiện diện  trước Đại Hùng Bửu Điện Chùa Pháp Hoa để đăng đàn dâng Lễ Tri Ân Hòa Thượng Ân Sư thượng Như hạ Huệ

Được sự hứa khả của Ban Tổ Chức, Chúng con thay mặt cho toàn thể Huynh trưởng Đoàn sinh GĐPTVN tại Úc Đại Lợi, bằng với tất cả tấm lòng thành kính, xin dâng lên quý Ngài hiện diện trong đạo tràng hôm nay lời thỉnh an tứ đại nhu hòa, Phật sự viên thành.

Kính bái bạch Chư Tôn Đức, kính thưa toàn thể đại chúng hiện tiền, trước sự chứng tri Tam Bảo chúng con thành kính đê đầu đảnh lễ dâng lên Hòa Thượng Ân Sư lời cảm niệm tri ân, kính mong Hòa Thượng từ bi khả nạp

Biết trước cuộc đời du hóa của Ngài đã đến lúc phải dừng chân.

Khởi đi từ quê hương Ngũ phụng Tề phi, nơi Tổ đình Lâm Tế Chúc Thánh Hội An, Ngài đã du hóa khắp mọi miền đất nước, nhận lãnh bao nhiêu nhiệm vụ thiêng liêng của Giáo Hội ủy thác, qua các giai đoạn hóa đạo cam go, sinh mệnh thập tử nhất sinh của những năm 1963, 1968, 1975 trên quê hương Quảng Nam Đà Nẵng, đặc biệt đối với Tổ chức GĐPT, Ngài đã không nề gian nguy đứng ra nhận lãnh chức vụ Trưởng Ban Hướng Dẫn GĐPT Đà Nẵng nhằm lèo lái Tổ chức vượt qua cơn nguy khốn 1978.

 Khi ra đến Hải Ngoại Ngài là một trong những vị đã có công đầu trong công cuộc kiến tạo xây dựng, phát triển Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất  tại Úc Đại Lợi -Tân Tây Lan, Ngài cùng Chư Tôn Đức đã lèo lái con thuyền Giáo Hội PGVN tại UĐL vượt qua bao khó khăn thử thách để hôm nay Giáo hội được hưng thịnh Tăng già hòa hợp, Thiền môn thanh tịnh, Tứ chúng phát tâm tu hành.


Tri an HT Thich Nhu Hue (4)
Tri an HT Thich Nhu Hue (1)
Le Tri An Duc Truong Lao HT Thich Nhu Hue (139)Le Tri An Duc Truong Lao HT Thich Nhu Hue (246)Le Tri An Duc Truong Lao HT Thich Nhu Hue (247)Le Tri An Duc Truong Lao HT Thich Nhu Hue (248)Le Tri An Duc Truong Lao HT Thich Nhu Hue (249)Le Tri An Duc Truong Lao HT Thich Nhu Hue (251)Le Tri An Duc Truong Lao HT Thich Nhu Hue (253)

Kính bạch Hòa Thượng,

Kể từ khi Ngài du hóa trên xứ sở nầy GĐPT UĐL Chúng con đã nương nhờ nơi ân đức của Ngài mà xây dựng phát triển hưng thịnh đến ngày nay, anh chị em chúng con được giáo dưỡng vững chãi để ngày nay chúng con vươn ra biển lớn sánh vai cùng bè bạn khắp năm châu mà không cô phụ công lao của Ngài, Chúng con thực hiện lời giáo giới nơi Tăng già mà trực tiếp giáo dục Thanh, Thiếu, Đồng  niên Phật tử VN tại quản cư nầy hầu góp phần xiển dương chánh pháp .

Trải qua trên 33 năm hành hoạt GĐPT Úc Đại Lợi chúng con gặp nhiều sóng gió mà có lúc tưởng chừng không trụ nổi, nhưng hạnh phúc thay nhờ có Ngài đứng mũi chịu sào hoan hỷ đón nhận mọi thị phi, để cho chúng con có nơi nương tựa hội tụ tiến hành Đại Hội phát triển nhà Lam, ân đức độ lượng đó chúng con xin mãi tạc dạ ghi ơn.

Bạch Hòa Thượng đã qua bao nhiêu mùa Đại Hội, Khóa Tu học, Trại Huấn Luyện mặc dù Phật sự rất đa đoan nhưng khi nào chúng con mời thỉnh, Ngài không hề từ nan hiện diện che chở, giáo dưỡng, bảo vệ cho chúng con, lòng từ bi ấy không sao kể xiết, Thầy hiến tặng bao nhiêu năng lực để cho chúng con đủ tâm lượng duy trì tổ chức lâu dài.

 Trong không khí đạo tràng trang nghiêm, dưới sự chứng minh Tam Bảo trước là tác bạch Tri Ân Hòa Thượng sau là thay mặt cho anh chị em GĐPT UĐL chúng con đầu thành đảnh lễ sám hối những lỗi lầm do anh chị em chúng con vụng về gây ra làm cô phụ tấm lòng Thầy, hôm nay đây chúng con chí thành đảnh lễ sám hối những lỗi lầm bất xứng của chúng con, ngưỡng nguyện Tam bảo chứng minh, kính lạy Thầy từ bi hỷ xả cho chúng con an triêm công đức. Và cho chúng con được dâng lên Ngài phẩm lễ Tri Ân của Ban Hướng Dẫn và 3 Đơn Vị GĐPT Long Hoa, Pháp Hoa, Liên Hoa tại tiểu bang Nam Úc. Nguyện cầu hồng ân Chư Phật, Chư Bồ Tát, Long Thần Hộ Pháp thùy từ gia hộ cho Hòa Thượng đạo thọ, thế thọ miên trường.

Nam Mô Hoan Hỷ Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát.

Chúng con đầu thành đảnh lễ tri ân Hòa Thượng tam bái 

 

Adelaide, ngày 1 tháng 5 năm 2016

Trưởng Ban Hướng Dẫn

QUẢNG GIẢI Huỳnh Kim Hóa

 

 





 

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
24/06/2011(Xem: 9247)
Vua Lê Đại Hành mất vào năm 1005, các hoàng tử tranh giành ngôi vua tạo nên cảnh khổ đau tràn ngập cho Dân Tộc, bên trong bị nội loạn, bên ngoài bị ngoại xâm đe dọa. Trước những thảm trạng đen tối u ám và đầy dẫy những thống hận đó, Vạn Hạnh thiền sư xuất hiện như một thứ ánh sáng phi thường quét sạch vùng trời giông tố để đưa vận nước bước vào thời đại huy hoàng thịnh trị.
24/06/2011(Xem: 8800)
Trận chiến thắng Bạch Đằng của Ngô Vương Quyền năm 939 là một dấu mốc quan trọng trong lịch sử dựng nước của Việt Nam. Ngọn sóng Bạch Đằng Giang đã cuốn trôi đi nỗi đau nhục của người dân nô lệ, nhận chìm tham vọng của nòi Hán áp đặt lên đất nước ta trong suốt một ngàn năm. Từ đây Việt Nam không còn là một huyện lỵ của người Hán, từ đây một quốc gia đúng nghĩa đã xuất hiện dưới vòm trời Đông Á.
24/06/2011(Xem: 11121)
Ngài họ Nguyễn húy là Hữu Kê, dòng họ của Đại thần Nguyễn Trãi. Nguyên quán thuộc Tông sơn Gia miêu Ngoại trang, tỉnh Thanh Hóa. Ngài thọ sanh năm Nhâm Tý (1912), tại làng Nguyệt Biều, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên. Vốn thọ sanh trong gia đình vọng tộc, quý phái, thích lý luận Nguyễn Hữu Độ.
24/06/2011(Xem: 7899)
Ngài Mật Thể, pháp danh Tâm Nhất, pháp tự Mật Thể, tên thật là Nguyễn Hữu Kê, sinh năm 1912 ở làng Nguyệt Biều, quận Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên. Chánh quán huyện Tống Sơn, Gia Miêu ngoại trang, tỉnh Thanh Hóa, thuộc dòng Thích Lý của Cụ Nguyễn Hữu Độ. Gia đình Ngài qui hướng đạo Phật, cụ thân sinh và người anh ruột đều xuất gia.
23/06/2011(Xem: 8569)
Đọc Thánh Đăng Ngữ Lục, do Sa môn Tánh Quảng, Thích Điều Điều đề tựa trùng khắc, tái bản năm 1750, ta thấy đời Trần có năm nhà vua ngoài việc chăn dân, họ còn học Phật, tu tập và đạt được yếu chỉ của thiền, như vua Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Anh Tông và Trần Minh Tông. Và sự chứng ngộ của các Thiền sư đời Trần thì không thấy đề cập ở sách ấy, hoặc có đề cập ở những tư liệu khác mà hiện nay ta chưa phát hiện được, hoặc phát hiện thì cũng phải tra cứu và luận chứng dài dòng rồi mới kết đoán ra được.
23/06/2011(Xem: 9272)
Đọc sử Phật giáo Việt Nam, hẳn chúng ta đều biết nước mình có một ông vua đi tu ngộ đạo, đó là vua Trần Nhân Tông. Ngài làm vua trong thời gian nước nhà đang bị quân Mông Cổ đem đại quân sang xâm lấn nước ta lần thứ ba.
22/06/2011(Xem: 12290)
Trong sáu thập niên qua, TIME đã không ngừng ghi chép lại những vinh quang cùng khổ nhọc của Á châu. Trong số đặc biệt kỷ niệm thường niên hôm nay, chúng tôi muốn bày tỏ lòng kính trọng của mình đến những nhân vật nổi bật đã góp phần vào việc hình thành nên thời đại chúng ta. Những thập niên xáo động nhất của một lục địa đông dân nhất trên trái đất này đã sản sinh ra hàng loạt những nhân vật kiệt xuất. Trong sáu mươi năm qua, kể từ khi TIME bắt đầu cho xuất bản ấn bản Á Châu, chúng tôi đã có cái đặc ân là được gặp gỡ đa số những nhân vật ngoại hạng này –theo dấu cuộc vận động hay trên chiến trường, trong phòng hội hay trong phòng thí nghiệm, tại cơ sở sản xuất hay tại phim trường.
16/06/2011(Xem: 7750)
Tôi có duyên lành gặp được ngài một lần khi ngài đến thăm Hòa thượng chùa Đông Hưng, bổn sư của tôi, cũng là y chỉ sư của Hòa thượng Quảng Thạc, một để tử xuất gia của ngài khi còn ở đất Bắc. Cung cách khiêm cung, ngài cùng Hòa thượng tôi đàm đạo về quá trình tu tập cũng như Phật học, hai ngài đã rất tâm đắc về chí nguyện giải thoát và cùng nhau kết luận một câu nói để đời : “Mục đích tu hành không phải để làm chính trị”. Cũng câu nói này, khi chia tay chư tăng miền Nam, ngài đã phát biểu với hàng pháp lữ Tăng ni đưa tiễn. Khi sưu tập tư liệu về cuộc đời của ngài, tôi may mắn gặp được các bậc tri thức cao đồ của ngài kể lại. Nay, nhân có cuộc hội thảo về phong trào chấn hưng Phật giáo miền Bắc và công hạnh của ngài, tôi xin được góp thêm đôi điều.
14/06/2011(Xem: 8891)
Thiền sư PHÁP THUẬN (Bính Tý 918): Thiền sư đời Tiền Lê, thuộc dòng thiền Tỳ-Ni-Đa-Lưu Chi, không rõ gốc gác quê quán và tên thật, chỉ biết rằng Sư họ Đỗ, xuất gia từ thuở nhỏ ở chùa Cổ Sơn (Thanh Hóa), sau theo học đạo Thiền sư Phù Trì ở chùa Long Thọ, nổi tiếng là uyên thâm đức độ. Tương truyền rằng chính Sư đã dùng nghệ thuật phù sấm, làm cố vấn giúp vua Lê Đại Hành nắm quyền bính, dẹp yên được hỗn loạn trong triều cuối đời nhà Đinh, được vua Lê vô cùng trọng vọng. Năm 990 niên hiệu Hưng Thống thứ 2, Sư không bệnh mà viên tịch, thọ 76 tuổi, để lại cho đời các tác phẩm: “Bồ Tát sám hối văn”, “Thơ tiếp Lý Giác”, và một bài kệ.
14/06/2011(Xem: 8951)
• Thiền sư Chân Không(Bính Tuất -1046): Sư họVương, thế danh Hải Thiềm, quê quán ở làng Phù Đổng (nay là Tiên Sơn-Bắc Ninh), xuất thân trong một gia đình quý tộc. Lúc thân mẫu của ông mang thai, cha ông nằm mộng thấy một vị tăng Ấn Độ trao cho cây tích trượng, sau đó thì ông ra đời. Mồ côi cha mẹ từ thuở niên thiếu, ông siêng chăm đọc sách không màng đến những chuyện vui chơi. Năm 20 tuổi ông xuất gia, rồi đi ngao du khắp nơi để tìm nơi tu học Phật Pháp. Nhân duyên đưa đẩy cho Sư đến chùa Tĩnh Lự ở núi Đông Cứu (Gia Lương-Hà Bắc), nghe Thiền sư Thảo Nhất giảng kinh Pháp Hoa mà ngộ đạo, được nhận làm đệ tử, sớm tối tham cứu thiền học, và được sư thầy truyền tâm ấn, thuộc dòng thiền Tì-ni-đa Lưu -chi, thế hệ thứ 16. Sau, Sư lên núi Phả Lại, trại Phù Lan (nay thuộc huyện Mỹ Văn-Hưng Yên) làm trụ trì chùa Chúc Thánh, ở suốt 20 năm không xuống núi để chuyên trì giới luật, tiếng thơm đồn xa đến cả tai vua.