Hòa Thượng vui tánh

09/04/201606:27(Xem: 9201)
Hòa Thượng vui tánh


hT Huyen Ton

HÒA THƯỢNG VUI TÁNH
Kính dâng HT Tăng Giáo Trưởng

 



Mới đó mà đã thấm thoát 21 năm trôi qua từ khi tôi quen biết Hòa Thượng Thích Huyền Tôn, nhân lúc Hòa Thượng viếng thăm Chùa Giác Nhiên bên New Zealand lần đầu tiên. Lúc đó tôi còn ở bên NZ, là sinh viên năm thứ 2, nhưng tôi vẫn tinh nghịch như một đứa trẻ mà người đời thường nói “Nhất quỷ, nhì ma, thứ ba học trò”. Cho dù tôi tinh nghịch đến cỡ nào Hòa Thượng vẫn vui vẻ tươi cười. Tôi có cảm giác thấy gần gũi như đã từng quen Ngài từ nhiều kiếp vậy.

Hai năm sau tôi rời khỏi NZ và đặt chân đến xứ Kangaroo, hay tin Hòa Thượng rất vui mừng và đã đến thăm tôi cùng Thầy Viện Chủ TVQĐ, khi mà tôi chưa kịp đến thăm cũng như đảnh lễ Hòa Thượng. Hòa Thượng và Thầy Viện chủ làm cho tôi bồi hồi xúc động vui mừng không thể tả xiết. Tôi cảm động tấm chân tình mà Hòa Thượng ưu ái dành cho tôi mặc dù chỉ quen biết sơ sơ bên NZ mà thôi.

Sau một thời gian tôi ổn định cuộc sống nơi đây, thỉnh thoảng hàng tuần vào ngày Chủ Nhật sau khi cúng lễ tại TVQĐ xong tôi chạy đến thăm Hòa Thượng (lúc đó Hòa Thượng còn ở trong một ngôi Chùa nhỏ ở vùng Essendon). Mỗi lần đến thăm Hòa Thượng rất vui mừng, xuống bếp nấu nhiều thức ăn ngon đãi cho đệ tử. Hòa Thượng dành nhiều thời gian khuyên bảo cũng như khuyến tấn những lời rất thâm thúy, cốt lõi của đạo Phật giúp tôi hiểu thêm nhiều điều hay lẽ phải để làm hành trang trên con đường tu tập và dạy cho tôi rất nhiều điều lý thú về Đạo lẫn Đời. Tối nhớ Hòa Thượng dạy mỗi ngày trước và sau khi đi làm về, thắp hương lễ 3 lạy trước bàn thờ Phật và tụng 2 bài kinh ngắn quan trọng, đó là 2 bài Tam Tự Quy Y và Sám Hối Nghiệp Chướng (Đệ tử vốn tạo các vọng nghiệp, Đều do vô thỉ tham, sân, si. Từ thân miệng ý phát sinh ra. Đệ tử thảy đều xin sám hối. ), đó là pháp hành mỗi ngày mà  đệ tử tại gia có thể làm được để chuyển hóa nghiệp lực và thăng tiến tâm linh trên bước đường tu học. Nhưng lúc đó tôi còn ham vui, ham chơi nên ít khi để tâm ý đến những điều Hòa Thượng răn dạy. Sau nhiều năm trải nghiệm cuộc đời ô trược này, tôi mới cảm nhận được từng chữ, từng lời Hòa Thượng đã khuyên và dạy bảo tôi những gì nên làm, nên học, nên tránh..., thì tôi mới cảm thấy thấm thía, nhưng tiếc là khi nhận thức được thì quá trễ, quá muộn màng. Nhưng dầu sao, nhờ vậy tôi mới đứng dậy được sau nhiều lần vấp ngã và ý chí vẫn còn mạnh để vượt qua nhiều chướng ngại. Giờ đây ít ra tôi vẫn không quên những lời vàng ngọc mà Hòa Thượng đã dạy và tôi đã áp dụng trong vài năm trở lại đây.

Tôi rất vui mừng là mình cũng đã từng có nhiều duyên phước được gần gũi bậc Thầy uyên thâm Phật học như Hòa Thượng. Tôi sẽ cố gắng và cố gắng nhiều hơn nữa để không phụ lòng Hòa Thượng đã bỏ công dạy dỗ tôi.

Con nguyện cầu cho Hòa Thượng sức khỏe luôn được an khang, trường thọ và mãi mãi là cây cổ thụ để che chở cũng như dạy bảo giúp cho hàng đệ tử chúng con thấm nhuần giáo lý Phật.

 

Nam Mô A Di Đà Phật

Melbourne 7-4-2016

Đệ tử Thục Đức

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
02/12/2010(Xem: 10952)
Hòa thượng Thích Quảng Thiệp (1928-1998)
25/11/2010(Xem: 38071)
Trần Thái Tông là vị vua đầu của triều Trần. Ngài là đệ tử của thiền sư Viên Chứng trên núi Yên Tử. Ngài vừa làm vua vừa thực tập thiền. Ngài cũng từng thực tập thiền công án. Đây là 43 công án Vua đưa ra để cùng thực tập với tăng thân của Vua, gồm có giới xuất gia và tại gia. Thầy Làng Mai đã dịch những công án này ra tiếng Việt và tiếng Pháp năm 1968. Bản dịch tiếng Pháp xin xem ở phần phụ lục cuốn Clé Pour Le Zen, tác giả Nhất Hạnh, do nhà xuất bản JC Lattes ấn hành. Bản Hán Việt có trong Thơ Văn Lý Trần quyển II (Quyển thượng, trang 108-121), NXB Khoa Học Xã Hội.
24/11/2010(Xem: 15679)
Tiểu sử nhà văn Quách Tấn
15/11/2010(Xem: 10750)
Vào ngày 1-11-1963 khi quân đội đứng lên làm cuộc đảo chánh lật đổ chế độ của gia đình Ô. Ngô Đình Diệm - mà Hội Đồng Quân Dân Cách Mạng do Đại Tướng Dương Văn Minh cầm đầu gọi đó là cuộc “Cách Mạng” thì tôi là cậu sinh viên Luật Khoa Năm Thứ Nhất, chuẩn bị thi lên Năm Thứ Hai của Đại Học Luật Khoa Sài Gòn. Bố tôi sính đọc sách báo, vả lại gia đình cư ngụ ở xóm lao động cho nên Radio hàng xóm mở ầm ầm cả ngày khiến dù không muốn nghe nhưng cũng phải nghe tin tức từng giờ của đài phát thanh. Hơn thế nữa khi Sài Gòn nổ ra cuộc đấu tranh của Phật Giáo thì hầu như các đại học, trung học đều đóng của hoặc tự động bãi khóa.
10/11/2010(Xem: 11666)
Hoà Thượng thế danh Diệp Quang Tiền, pháp danh Tâm Khai, tự Thiện Giác, hiệu Trí Ấn Nhật Liên. Ngài sanh ngày 13 tháng 10 năm Quý Hợi (1923) tại thôn Xuân Yên, xã Triệu Thượng, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, trong một gia đình thâm tín Phật Giáo. Thân phụ là cụ Diệp Chí Hoan; thân mẫu là cụ bà Phan Thị Đường. Hai cụ sinh hạ được 5 người con : 4 nam, 1 nữ - Ngài là con thứ trong gia đình, sau anh trưởng là Thầy Diệp Tôn (Thích Thiện Liên). Năm lên 6 tuổi (1928) gia đình Ngài dời về thôn Diên Sanh, xã Hải Thọ, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Thân sinh Ngài đã rước thầy Đồ Nho danh tiếng về nhà để dạy chữ Hán cho hai con. Hai anh em Ngài thường được cụ Đồ khen là thông minh, hứa hẹn một tương lai tốt đẹp. Năm lên 10 tuổi (1932), Ngài theo học Việt Văn tại thôn Diên Sanh.
02/11/2010(Xem: 11298)
Thành kính khẩn bạch đến chư Tôn Đức Tăng Già của quý Giáo Hội, quý Tự Viện, quý tổ chức Phật Giáo cùng toàn thể chư vị thiện nam tín nữ Phật tử: Đại Lão Hòa Thượng thượng Huyền, hạ Ấn, thế danh Hoàng Không Uẩn, sinh năm 1928 tại Quảng Bình, Việt Nam
01/11/2010(Xem: 17805)
Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 1, Chùa Pháp Hoa (2000) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 2, Chùa Pháp Bảo (2001) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 3, Chùa Linh Sơn (2002) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 4, Tu Viện Vạn Hạnh (2003) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 5, Tu Viện Quảng Đức (2004) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 6, Chùa Phổ Quang (2005) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 7, Chùa Pháp Bảo (2006) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 8, Chùa Pháp Hoa (2007) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 9, Chùa Linh Sơn (2008) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 10, Chùa Pháp Bảo (2009) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 11, Thiền Viện Minh Quang (2010) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 12, Tu Viện Quảng Đức (2011) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 13, Tu Viện Vạn Hạnh (2012) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 14, Thiền Viện Minh Quang (2013) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 15, Tu Viện Quảng Đức (2014) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 16, Chùa Pháp Pháp Bảo (2015) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 17, Tu Viện Quảng Đức (2016) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 18, Chùa Pháp Hoa (2017) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 19, Chùa Pháp Hoa (2018)
01/11/2010(Xem: 49488)
Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 1, Chùa Pháp Hoa (2000) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 2, Chùa Pháp Bảo (2001) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 3, Chùa Linh Sơn (2002) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 4, Tu Viện Vạn Hạnh (2003) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 5, Tu Viện Quảng Đức (2004) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 6, Chùa Phổ Quang (2005) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 7, Chùa Pháp Bảo (2006) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 8, Chùa Pháp Hoa (2007) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 9, Chùa Linh Sơn (2008) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 10, Chùa Pháp Bảo (2009) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 11, Thiền Viện Minh Quang (2010) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 12, Tu Viện Quảng Đức (2011) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 13, Tu Viện Vạn Hạnh (2012) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 14, Thiền Viện Minh Quang (2013) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 15, Tu Viện Quảng Đức (2014) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 16, Chùa Pháp Pháp Bảo (2015) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 17, Tu Viện Quảng Đức (2016) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 18, Chùa Pháp Hoa (2017) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 19, Chùa Pháp Hoa (2018)
29/10/2010(Xem: 10219)
Kể từ khi vết tích của chùa Thiên Mụ được ghi lại đơn sơ trong sách Ô Châu Cận Lục vào năm 1553 (1), chùa đã tồn tại gần 450 năm cho đến ngày nay. Trải qua bao nhiêu cuộc bể dâu, chùa vẫn giữ được địa vị và vẫn đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống đạo và đời của dân Huế, nói riêng, và của dân cả nước, nói chung. Qua đầu thế kỷ 17, chùa đã thực sự đi vào lịch sử sau khi Nguyễn Hoàng vào xứ đàng trong để gây dựng cơ nghiệp đế vương với huyền thoại “bà tiên mặc áo đỏ” (9).