Hòa Thượng vui tánh

09/04/201606:27(Xem: 9256)
Hòa Thượng vui tánh


hT Huyen Ton

HÒA THƯỢNG VUI TÁNH
Kính dâng HT Tăng Giáo Trưởng

 



Mới đó mà đã thấm thoát 21 năm trôi qua từ khi tôi quen biết Hòa Thượng Thích Huyền Tôn, nhân lúc Hòa Thượng viếng thăm Chùa Giác Nhiên bên New Zealand lần đầu tiên. Lúc đó tôi còn ở bên NZ, là sinh viên năm thứ 2, nhưng tôi vẫn tinh nghịch như một đứa trẻ mà người đời thường nói “Nhất quỷ, nhì ma, thứ ba học trò”. Cho dù tôi tinh nghịch đến cỡ nào Hòa Thượng vẫn vui vẻ tươi cười. Tôi có cảm giác thấy gần gũi như đã từng quen Ngài từ nhiều kiếp vậy.

Hai năm sau tôi rời khỏi NZ và đặt chân đến xứ Kangaroo, hay tin Hòa Thượng rất vui mừng và đã đến thăm tôi cùng Thầy Viện Chủ TVQĐ, khi mà tôi chưa kịp đến thăm cũng như đảnh lễ Hòa Thượng. Hòa Thượng và Thầy Viện chủ làm cho tôi bồi hồi xúc động vui mừng không thể tả xiết. Tôi cảm động tấm chân tình mà Hòa Thượng ưu ái dành cho tôi mặc dù chỉ quen biết sơ sơ bên NZ mà thôi.

Sau một thời gian tôi ổn định cuộc sống nơi đây, thỉnh thoảng hàng tuần vào ngày Chủ Nhật sau khi cúng lễ tại TVQĐ xong tôi chạy đến thăm Hòa Thượng (lúc đó Hòa Thượng còn ở trong một ngôi Chùa nhỏ ở vùng Essendon). Mỗi lần đến thăm Hòa Thượng rất vui mừng, xuống bếp nấu nhiều thức ăn ngon đãi cho đệ tử. Hòa Thượng dành nhiều thời gian khuyên bảo cũng như khuyến tấn những lời rất thâm thúy, cốt lõi của đạo Phật giúp tôi hiểu thêm nhiều điều hay lẽ phải để làm hành trang trên con đường tu tập và dạy cho tôi rất nhiều điều lý thú về Đạo lẫn Đời. Tối nhớ Hòa Thượng dạy mỗi ngày trước và sau khi đi làm về, thắp hương lễ 3 lạy trước bàn thờ Phật và tụng 2 bài kinh ngắn quan trọng, đó là 2 bài Tam Tự Quy Y và Sám Hối Nghiệp Chướng (Đệ tử vốn tạo các vọng nghiệp, Đều do vô thỉ tham, sân, si. Từ thân miệng ý phát sinh ra. Đệ tử thảy đều xin sám hối. ), đó là pháp hành mỗi ngày mà  đệ tử tại gia có thể làm được để chuyển hóa nghiệp lực và thăng tiến tâm linh trên bước đường tu học. Nhưng lúc đó tôi còn ham vui, ham chơi nên ít khi để tâm ý đến những điều Hòa Thượng răn dạy. Sau nhiều năm trải nghiệm cuộc đời ô trược này, tôi mới cảm nhận được từng chữ, từng lời Hòa Thượng đã khuyên và dạy bảo tôi những gì nên làm, nên học, nên tránh..., thì tôi mới cảm thấy thấm thía, nhưng tiếc là khi nhận thức được thì quá trễ, quá muộn màng. Nhưng dầu sao, nhờ vậy tôi mới đứng dậy được sau nhiều lần vấp ngã và ý chí vẫn còn mạnh để vượt qua nhiều chướng ngại. Giờ đây ít ra tôi vẫn không quên những lời vàng ngọc mà Hòa Thượng đã dạy và tôi đã áp dụng trong vài năm trở lại đây.

Tôi rất vui mừng là mình cũng đã từng có nhiều duyên phước được gần gũi bậc Thầy uyên thâm Phật học như Hòa Thượng. Tôi sẽ cố gắng và cố gắng nhiều hơn nữa để không phụ lòng Hòa Thượng đã bỏ công dạy dỗ tôi.

Con nguyện cầu cho Hòa Thượng sức khỏe luôn được an khang, trường thọ và mãi mãi là cây cổ thụ để che chở cũng như dạy bảo giúp cho hàng đệ tử chúng con thấm nhuần giáo lý Phật.

 

Nam Mô A Di Đà Phật

Melbourne 7-4-2016

Đệ tử Thục Đức

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
27/03/2013(Xem: 18309)
Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư, Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 01 (2007, Canada) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 02 (2008, Hoa Kỳ) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 03 (2019, Hoa Kỳ) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 04 (2010, Đức) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 05 (2011, Pháp) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 06 (2012, Úc) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 07 (2013, Hoa Kỳ) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 08 (2014, Úc) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 09 (2015, Pháp) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 10 (2016, Canada) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 11 (2018, Pháp) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 12 (2020, Úc)
18/03/2013(Xem: 8642)
Viện Đại học Vạn Hạnh ở Sài Gòn, thủ đô miền Nam Việt Nam, trước năm 1975 là một trung tâm văn hóa Phật giáo nổi tiếng lừng lẫy. Nơi đây đã quy tụ biết bao hào kiệt trượng phu, biết bao tao nhân mặc khách, biết bao giáo sư, triết gia cự phách thượng đẳng. Đặc biệt là các thiên tài xuất chúng siêu việt như Phạm Công Thiện, Tuệ Sỹ, Lê Mạnh Thát, nổi bật nhất là Bùi Giáng, một thi sĩ kỳ dị, xưa nay chưa từng thấy xuất hiện trên bầu trời văn nghệ Việt Nam và thế giới.
11/03/2013(Xem: 8824)
Lê Quý Đôn (1726-1784) là một danh sĩ, nhà văn hóa, sử gia, sống vào đời Hậu Lê. Ông không những ba lần thi đều đỗ đầu, kinh qua nhiều chức quan, đã từng đi sứ sang Trung Quốc, mà còn là một nhà bác học, đã để lại một gia tài đồ sộ bao gồm khoảng 16 tác phẩm và nhiều thơ, phú bằng chữ Nôm khác. [1] Trong số những tác phẩm ấy, có Kiến văn tiểu lục, [2] là một tác phẩm dành riêng quyển 9 – thiên Thiền dật, để viết về Phật giáo và Thiền tông Phật giáo Việt Nam, chủ yếu là những vị Tổ thuộc Thiền phái Trúc lâm. Trong bài viết ngắn này, chúng ta thử chỉ tìm hiểu quan điểm của Lê Quý Đôn về Phật giáo, mà không bàn sâu đến phần Thiền tông Việt Nam mà ông đã chép.
21/02/2013(Xem: 9758)
Hòa thượng Thích Tâm Giác, thế danh là Trần Văn Mỹ, sinh năm 1917 tại tỉnh Nam Định, thân phụ là cụ ông Trần Văn Quý, thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Suôi. Ngài là con trai thứ hai trong gia đình gồm hai trai một gái. Ngài sinh trưởng trong một gia đình Nho phong. Thân phụ Ngài tinh thông Hán học. Cả hai ông bà lại rất thâm tín Phật pháp. Do đó, Ngài được hấp thụ ngay từ thuở ấu thơ hai nền văn hóa cổ truyền của dân tộc là Khổng giáo và Phật giáo.
19/02/2013(Xem: 11539)
Mới đây các nhà khảo cổ Mỹ và Canada đưa ra chứng cứ cho rằng Phật giáo đã được truyền vào Mỹ trước khi ông Columbus tìm ra châu Mỹ. Tuy nhiên, theo các tài liệu có được hiện nay thì Phật giáo chỉ thật sự có mặt tại Mỹ sau kỳ Đại hội Tôn giáo Thế giới tổ chức tại bang Chicago vào năm 1893. Nhưng ai là người có công truyền bá và làm lớn mạnh "hạt giống Bồ đề" trên đất Mỹ? Trong bài này, chúng tôi sẽ giới thiệu một số nhà sư cư sĩ người châu Á, những người tiên phong có công đặt nền móng xây dựng ngôi nhà chánh pháp trên đất Mỹ.
10/02/2013(Xem: 13142)
Từ những con người bình thường, không được sinh ra ở cung vàng điện ngọc, nhưng rồi trở thành những vị vua anh minh tài kiêm văn võ, tư tưởng và nhân cách cao siêu, mãi còn đọng lại với thời gian. Dù sống ở hoàng cung nhưng tâm lúc nào cũng vượt thoát, làm bậc đế vương nhưng hạnh vẫn là một sơn Tăng, ưa vui với gió nội mây ngàn, thở nhịp cùng đất trời nhân gian cây cỏ. Để rồi trở thành những người con Phật vĩ đại, trí tuệ và công hạnh thắm đượm cả không gian, thức tỉnh chúng ta trên bến bờ sinh tử của mê ngộ, đậm nét trong lòng người đến tận hôm nay. Bồ Tát Lương Võ Đế ( 463-549 ) của Trung Hoa và Trần Thái Tông ( 1218-1277) của Việt Nam, dù ở hai phương trời xa cách, sinh ra ở hai thời điểm khác nhau, nhưng cùng chung một tấm lòng, mang an lạc thịnh vượng đến cho nhân dân, và một hạnh nguyện chuyển hoá cứu độ quần sanh.
07/02/2013(Xem: 24362)
Nửa thế kỷ Tôn Sư vắng bóng, Ánh Đạo Vàng tỏa rộng muôn phương Hôm nay tổ chức huy hoàn Hằng năm kỷ niệm, đàn tràng tôn nghiêm. Môn đồ Tứ chúng ngưỡng chiêm,
06/02/2013(Xem: 10402)
Hòa thượng Bích Liên, thế danh là Nguyễn Trọng Khải, hiệu Mai Đình (Thận Thần Thị), sinh ngày 16 tháng 3 năm Bính Tý (1876), tại làng Háo Đức, phủ An Nhơn, nay là ấp Háo Đức, xã Nhơn An, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. Ngài sinh trưởng trong một gia đình nho học, được theo nghiệp bút nghiên từ nhỏ. Cha là Tú Tài Nguyễn Tự, mẹ là bà Lâm Thị Hòa Nghị . Năm 20 tuổi, Ngài lập gia đình với cô Lê Thị Hồng Kiều, người làng An Hòa, (nay thuộc xã Nhơn Khánh cùng huyện). Năm 31 tuổi, Ngài lều chõng vào trường thi Hương Bình Định và đỗ Tú Tài. Ba năm sau, Ngài lại đỗ Tú Tài lần nữa. Từ đó, biết mình long đong trên bước đường khoa bảng, Ngài giã từ lều chõng, ở nhà mở trường dạy học, mượn trăng thanh gió mát di dưỡng tính tình, lấy chén rượu câu thơ vui cùng tuế nguyệt.
03/02/2013(Xem: 8697)
Tuệ Sỹ là ai mà thơ hào sảng, hùng tâm tráng khí như thế ? Tuệ Sỹ quê Quảng Bình, sinh năm 1943, nhỏ hơn Phạm Công Thiện 2 tuổi, cũng là một bậc thiên tài xuất chúng, làu thông kinh điển Nguyên thủy, Đại thừa và nhiều thứ tiếng Anh, Pháp, Đức, Hán, Phạn, Pali. Khi mới vừa 26 tuổi đã viết Triết học về Tánh Không làm chấn động giới văn nghệ sĩ, học giả, thiện tri thức Việt Nam thời bấy giờ.
20/01/2013(Xem: 8644)
Phạm Công Thiện(1/6/1941 - 8/3/2011), là một nhà văn, triết gia, học giả, thi sĩ và cư sĩ Phật Giáo người Việt Nam với pháp danh Thích Nguyên Tánh. Tuy nhận mình là nhà thơ và phủ nhận nghề triết gia, ông vẫn được coi là một triết gia thần đồng, một hiện tượng dị thường của Sài Gòn thập niên 60 và của Việt Nam với những tư tưởng ít người hiểu và được bộc phát từ hồi còn rất trẻ. Dưới đây là bài viết của Tâm Nhiên nhân sắp đến ngày giỗ của ông.