Vị Thầy hoan hỷ

24/03/201608:52(Xem: 8930)
Vị Thầy hoan hỷ


khanhtue-htnhuhue (39)
Vị Thầy Hoan Hỷ
Kính dâng Hòa Thượng Chứng Minh Đạo Sư


Con không bao giờ quên gương mặt phúc hậu, dịu dàng và nụ cười hòa ái, hoan hỷ của Thầy mỗi khi con có dịp hầu thăm và đảnh lễ Ngài ở chùa Pháp Hoa (Nam Úc) hay Tổ đình Thiền Viện Minh Quang, Sydney mà HT mỗi khi có việc Phật sự, đều đến thăm Thầy Viện chủ của chúng con và lưu lại đó vài ngày. Mỗi lần như vậy, hàng đệ tử TVMQ chúng con vui lắm, vì như vậy chúng con có dịp viếng thăm đảnh lễ  HT, được mang hầu Ngài ly nước, tách trà … Ngoài những việc làm nhỏ bé đó, chúng con không biết phải làm gì hơn để bày tỏ lòng biết ơn đối với công đức vô hạn mà HT đã đóng góp cho PGVN nói chung và công cuộc xây dựng PG Úc châu nói riêng suốt mấy chục năm qua.  Nhìn lại lịch sử Việt, đạo Phật luôn gắn liền với dân tộc và đất nước nên cũng chịu nhiều hệ lụy theo dòng sinh mệnh nổi trôi của đất nước. Hết bị ngoại bang dày xéo (thực dân Pháp) đến chánh quyền ngoại đạo kỳ thị đàn áp, rồi khi  đất nước hết chiến tranh thì lại bị chủ nghĩa vô thần muốn tiêu diệt.

Ngưỡng vọng về hành trạng của HT với Phật giáo và Tăng Tín đồ, chúng con thật vô cùng ngưỡng mộ và biết ơn, nhờ có Hùng Tâm, Hùng Lực với lòng Từ Bi vô biên và Trí Tuệ tuyệt vời, Thầy đã “Giữ vững mái chèo cùng với các vị Tôn Túc  trong GHPG  hải ngoại, đã đưa được con thuyền PGVN hải ngoại vượt qua cơn bão tố hãi hùng của Giáo chỉ số 9 và “bản án” Hướng dẫn thi hành Giáo chỉ ấy.

Đã nhiều năm trôi qua, vết thương ấy vẫn còn hằn đau không chỉ riêng trong lòng chư Tôn Túc PG hải ngoại mà cả hàng đệ tử chúng con. Nhưng dưới sự lãnh đạo sáng suốt từ hòa của HT và tấm lòng như trăng sao vằng vặc của chư Tôn Đức các Châu đối với Phật giáo ở quê nhà, với lòng biết ơn vô hạn với chư Phật mười phương mà quý Thầy vẫn kiên tâm, trì chí bảo vệ căn nhà GHPGVNTN hải ngoại, vẫn miệt mài hy sinh bản thân cho GH mặc cho các thế lực chẳng biết từ đâu đánh phá, nhục mạ. Nhờ vậy mọi Phật sự của Phật giáo 4 Châu đều được viên thành, chúng con vẫn tiếp tục đến Chùa, tham dự các khóa lễ huân tu  dưới sự lãnh đạo của chư Tôn Đức trong GHPGVNTNHN UĐL-TTL.

Mỗi năm chúng con đều theo Thầy tùng Hạ dù “Mùa An cư của Thầy là mùa Đông ở đây”. Và mỗi năm chúng con, Phật tử các bang Úc châu đều tụ hội sum vầy để cùng nhau chung học pháp trong Khóa Tu học Phật Pháp cuối năm, dưới sự giảng dạy của quý Thầy trong GH là một chứng minh hùng hồn nhất cho tấm lòng của quý Thầy đối với Phật pháp và niềm tin tuyệt đối của đệ tử chúng con dưới sự lãnh đạo của quý Thầy trong GH. “Mặc ai mưa Sở mây Tần, Ta đây vẫn giữ một lòng kiên trinh” và mặc cho ai đó đã kêu gọi mong muốn một sự nổi loạn để phá hoại sự đoàn kết của PG hải ngoại dưới sự lãnh đạo của Thầy (Thông bạch 31 VP II VHĐ) đây có phải là hiện tượng của “Sư tử trùng thực Sư tử nhục” mà Đức Phật đã nói năm xưa!? Nhưng Ma chướng này chỉ là một hiện tượng nhất thời của bản ngã Tham Sân Si của một ai đó làm thiêu đốt công đức của họ, tham vọng đó không bao giờ có đủ năng lực để phá hoại được lòng trung kiên của những người con Phật, những người mà trí huệ phát sinh nhờ học Phật.

Còn nhớ nhiều năm về trước, mỗi khi có dịp, con thường tìm đến thăm và đảnh lễ HT Viện Trưởng VHĐ ở Thanh Minh TV, kể hầu Ngài về sinh hoạt PG mình ở hải ngoại, đặc biệt là ở Úc, rồi  nghe Ngài giáo hóa vài lời … Nhưng  từ khi GC số 9 ban hành, khi có dịp về VN con không còn can đảm đến hầu thăm Ngài nữa, vì đến đó con biết kể hầu Ngài chuyện gì đây, chẳng lẽ con bạch với Ngài “Thầy ơi! sao Thầy nỡ đành chặt hết tay, chân của mình!” rồi khóc hay sao… mà biết Ngài có còn cho con diện kiến Ngài không, bởi vì các Thầy lớn của con còn bị từ bỏ, sá gì một ngoại đệ tử nhỏ nhít như con.

Kính bạch HT Trưởng Lão Chứng Minh,

Dù Ngài tuổi hạc đã cao, bước chân Ngài không còn nhanh nhẹn như xưa, con thuyền GH đã tạm bình yên sau cơn sóng dữ, Thầy đã lui về nghỉ ngơi nhưng Thầy vẫn là bóng mát cội Tùng để che chở cho hàng đệ tử xuất gia và tại gia chúng con, là Thiền môn Thạch trụ chống đỡ cho ngôi nhà Phật pháp ở hải ngoại. Chúng con nguyện cầu ân trên Chư Phật gia hộ Thầy sức khoẻ dồi dào, Phước Thọ miên trường, Tuệ Đăng thường chiếu, Pháp Trí Nhị Nghiêm để lèo lái con thuyền Chánh pháp, phổ biến hạnh Như Lai tiếp dẫn hậu thế.



Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Sydney, Xuân Bính Thân 2016

Đệ tử Diệu Hòa Ngọc Dung kính bái

                     

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/04/2013(Xem: 10180)
Hòa Thượng Bửu Chơn thế danh là Phạm Văn Thông, sinh năm Tân Hợi (1911) tại Sa Đéc – Đồng Tháp. Thuở thiếu thời Ngài sinh sống tại đất nước Chùa Tháp Campuchia, do đó Ngài thấm nhuần Phật Giáo Nam Tông vốn là quốc giáo của Vương quốc này. Sẵn có túc duyên Phật pháp nên vào năm 1940, Ngài xuất gia thuộc hệ phái Nam Tông. Sau đó Ngài vào rừng chấp trì hạnh đầu đà (Dhatanga) suốt mười hai năm. Năm 1951 Ngài được Phật tử Việt Nam cung thỉnh về Sài Gòn để truyền bá giáo pháp Nguyên Thủy
09/04/2013(Xem: 9118)
Hòa thượng thế danh là Võ Hóa, pháp danh Chơn Húy, pháp hiệu Khánh Anh, Ngài sinh năm Ất Mùi (1895) tại xã Phổ Nhì, tổng Lại Đức, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi. Khi nhỏ, Ngài theo học Nho, luôn tỏ ra là một Nho sinh xuất sắc.
09/04/2013(Xem: 10605)
Hòa thượng Khánh Hòa thế danh Lê Khánh Hòa, Pháp danh Như Trí, pháp hiệu Khánh Hòa, sinh năm Mậu Thân (1877) tại làng Phú Lễ, tổng Bảo Trị, quận Ba Tri, tỉnh Bến Tre.
09/04/2013(Xem: 9087)
Hòa thượng Thích Hưng Từ, thế danh Bùi Vạn Anh, sinh ngày mùng 1 tháng 8 năm Tân Hợi ( 1911 ) tại làng Bình Hòa, xã An Dân, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên. Ngài sinh trong một gia đình có truyền thống đạo Phật. Thân phụ là cụ Bùi Thế Vĩ, pháp danh Như chơn, thân mẫu là cụ bà Võ Thị Biểu, pháp danh là Thị Bửu. Từ nhỏ Ngài được song thân giáo dục trong tinh thần từ bi và chan chứa đức hỷ xả của Phật, nên Ngài sớm mộ cửa Thiền.
09/04/2013(Xem: 8561)
Hòa thượng Huệ Quang, thế danh Nguyễn Văn Ân sing năm 1888 tại Ô Môn, tỉnh Cần Thơ, sau theo mẹ về Trà Vinh. Năm 1902,Ngài xin xuất gia vào chùa Long Thành ở Trà Cú được Hòa thượng Thiện Trí mến thương đặt danh pháp là Thiện Hải. Ngoài giờ học Phật pháp, Ngài lại được Hòa thượng cho học thêm y học.
09/04/2013(Xem: 8822)
Hòa thượng Thích Phúc Hộ, thế danh là Huỳnh Văn Nghĩa, sinh ngày 24 tháng 7 năm Giáp Thìn (1904) đời vua Thành Thái năm thứ 16 tại làng Triều Sơn, xã Xuân Thọ, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên. Song thân của Ngài là cụ ông Huỳnh Trung và cụ bà Trần Thị Nho.
09/04/2013(Xem: 9808)
Chùa Thập Tháp là một trong số các ngôi tổ đình nổi tiếng của đất Bình Định Nếu như ở thời kỳ khởi đầu, ngôi tổ đình ấy được chú ý nhiều vì vị khai sơn là Thiền sư Nguyên Thiều - người có công lớn trong sứ mạng truyền bá Phật giáo ở Đàng Trong thời Nam Bắc phân tranh, hậu bán thế kỷ 17 ; thì vào thời hiện đại, tổ đình Thập Tháp được cả nước biết đến vì sự có mặt của Quốc sư Phước Huệ (1869-1945).
09/04/2013(Xem: 9871)
Ngài đã nêu cao tinh thần Bi, Trí, Dũng phục vụ chúng sinh, cống hiến trọn vẹn đời mình cho sự nghiệp chung của đạo pháp và dân tộc Việt Nam. Hòa thượng Thích Trừng San, pháp tự Minh Hiền, hiệu Hải Tuệ, thế danh Nguyễn San sau đổi là Trần Văn Lâu, nối pháp đời thứ 42 dòng Lâm Tế Liễu Quán. Ngài sinh năm Nhâm Tuất (1922), tại thôn Phú Khánh, xã Diên Thạnh, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa. Năm lên 8 tuổi, được song thân cho xuất gia học đạo với Hòa thượng Phổ Hiện, tại chùa Khánh Long, Diên Khánh. Sau khi Bổn sư viên tịch, Ngài y chỉ với Hòa thượng Chánh Ký, kế vị trụ trì chùa Khánh Long. Năm 1943 được y chỉ sư gửi đến thọ giáo với Hòa thượng Bích Không, trụ trì chùa Hải Đức (Nha Trang).
09/04/2013(Xem: 12777)
Hòa thượng Giới Nghiêm thế danh là Nguyễn Đình Trấn, sinh ngày 5 tháng 5 năm 1921, tại làng Gia Lê Thượng, xã Thủy Phương, huyện Hương Phú, tỉnh Thừa Thiên - Huế. ngài xuất thân trong một gia đình gồm ba anh em, có tinh thần yêu nước và có truyền thống đạo đức lâu đời. Ông nội là bậc xuất gia, cha là Hòa Thượng Quang Diệu, chú cũng xuất gia, bác là Hòa thượng Phước Duyên.
09/04/2013(Xem: 8245)
Hòa thượng pháp danh Thị An, pháp tự Hành Trụ, pháp hiệu Phước Bình, thuộc dòng Lâm Tế Chúc Thánh đời thứ 42. Ngài thế danh là Lê An, sinh năm 1904 trong một gia đình trung nông tại làng Phương Lưu, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên. Thân phụ là cụ Lê Uyển, thân mẫu là bà Nguyễn Thị Sử. Ông Bà có bốn người con, cả ba người con trai đều xuất gia đầu Phật.