Thầy là con thuyền Thanh lương

24/03/201608:45(Xem: 10532)
Thầy là con thuyền Thanh lương

 

HT Huyen Ton (21)Thầy là con thuyền Thanh lương 

Kính dâng HT Tăng Giáo Trưởng

 

Đã mấy chục năm qua kể từ ngày con rời xa quê Mẹ Việt Nam, đến định cư ở một xứ sở mới, cuộc sống có nhiều cái rất khác so với quê hương mình. Tuy là khác xa, nhưng con vẫn có thể đi Chùa, tụng Kinh, lễ Phật và tham gia nhiều Phật sự trong những ngày lễ lớn, đó chính là nhờ vào ân đức của HT, vì HT là một trong số ít tu sĩ VN đặt chân đến Úc này sau năm 1975 và bắt đầu gầy dựng lại ngôi nhà của PGVN.

 

Úc Châu, một đất nước mà khi ra đi, con nghĩ là không có chùa, không có Thầy và chắc là cũng không có Phật và khi rời đất nước ra đi cũng có nghĩa là từ nay con sẽ không còn đến chùa nữa, không còn nghe tiếng Đại Hồng Chung gióng lên từng hồi trong những ngày lễ lớn, hay tiếng Trống Bát Nhã vang lên dồn dập từng chập để cung nghinh Chư Tôn Đức quang lâm khai lễ hội.  Đó là một trong những cảm giác mất mát lớn lao mà một Phật tử thường đi Chùa như con không sao tránh khỏi.  

 

 “Chuông vẳng nơi nao nhớ lạ lùng,

 Ra đi ai chẳng nhớ Chùa chung…”

 

Vậy mà khi  đến Úc sống ở Sydney, con không kịp có thời gian để nhớ “chùa chung” vì chỉ một tuần sau, con được hân hạnh tham dự lễ Khánh thành Chùa Pháp Bảo, biết làm sao để nói hết nỗi mừng vui nầy. Còn vui hơn nữa vì sau khi sống ở Úc một thời gian, con biết ngoài chùa PB còn có thêm các chùa khác cũng do quý Thầy, từng người sau khi rời trại tị nạn đến miền đất mới mang theo tâm nguyện “Kiến pháp tràng ư xứ xứ” đã được các Phật tử  đến trước, từng bước hỗ trợ quý Thầy tạo lập nên những “mái chùa chung” như vậy. Riêng HT Tăng Giáo Trưởng, người đã thành lập GHPGVN đầu tiên ở Victoria từ năm 1981 như một nền tảng, để đến năm 1983 thì Ngài thành lập GHPGVNTN Úc Đại Lợi & Tân Tây Lan và năm 1999 thì GHPGVNTNHN UĐL-TTL thành lập tại chùa PB và đã chánh thức sinh hoạt với danh xưng nầy cho đến nay. Sau bao nhiêu sóng gió đã nói lên được tinh thần đoàn kết và ý chí dõng mãnh của người Trưởng tử Như Lai.  Chúng con đến sau  được thừa hưởng những thuận lợi sẵn có mà những người đi trước như Ngài đã đổ bao tâm huyết để hình thành và xây dựng nên ngôi nhà Phật pháp ở hải ngoại được vững vàng và mạnh mẽ như ngày nay…

 

Con ở xa không có phước duyên kề cận để được nghe HT dạy bảo như các đệ tử ở cùng trú xứ với Thầy, những lời khai thị của HT trong các khóa Tu, với chúng con những lời giáo hóa đó như kim chỉ nam và nghe  pháp âm của Phật do HT trùng tuyên, đôi khi trực tiếp mà nhiều khi cũng gián tiếp qua trang nhà  Quảng Đức. Những quyển kinh Phật do HT dịch, những bài thơ HT làm, những truyện ngắn mà HT viết…đã giúp đỡ nhiều cho những người học Phật sơ cơ như chúng con. Trong một buổi Văn nghệ mãn khóa An Cư năm 2014 ở TVQĐ, nghe Thầy Hạnh Phẩm ngâm một bài thơ " Tuổi Tức Từ" của HT đã làm cách đó cũng đã 45 năm, con không sao tránh khỏi bùi ngùi xúc cảm. Cuộc đời tu hành của HT (cũng như nhiều vị Tôn túc khác) đã gắn liền với đạo Phật và tùy theo sự thịnh suy của dân tộc, đất nuớc mà đạo pháp cũng theo vận nước nổi trôi, người tu hành cũng không tránh khỏi cảnh truân chuyên khổ lụy.

 

 Rời xa đất nước, những năm đầu đến Úc, định cư ở Melbourne, HT hầu như đã một mình gánh vác trọng trách một Trưởng tử Như Lai, mượn đất nhà Thờ tổ chức lễ Phật Đản, lễ Vu Lan cho Phật tử mình có nơi quy tựu, làm lễ tưởng nhớ đến ngày Đản sanh của đức Từ Phụ, tưởng nhớ Công ơn Cha mẹ sinh thành dưỡng dục, mà thuở đó quê hương như cách biệt ngàn trùng… Thời gian nầy con chưa có mặt trên đất Úc, nhưng con cũng hình dung được những khó khăn muôn vàn mà Hòa Thượng phải đối đầu để mong có thể đem giáo lý nhiệm mầu của Đức Từ Phụ Thích Ca Mâu Ni xiển dương nơi vùng đất mới, để những người con xa quê xích lại gần nhau, để có tiếng nói của những người con Phật trong căn nhà chung nhiều tôn giáo, nhiều sắc tộc, làm sao để cho trong môi trường mới, nếp sống mới, người con Phật vẫn có thể  “hòa nhi” dù “bất đồng”…

 

Tuy không cận kề Thầy, con vẫn  thầm lặng chiêm ngưỡng Thầy từ xa, đôi khi qua ống kính nhỏ bé của máy chụp hình, như vậy tưởng cũng quá đủ cho phước duyên của con. Ngắm nhìn HT qua ống kính, con phát hiện ra Thầy tuy tuổi hạc đã cao nhưng không thấy nét già nua mệt mỏi, tôn nhan Thầy vẫn sáng ngời như trí tuệ uyên bác của Thầy, bước chân Thầy vẫn chậm rãi ung dung tự tại, giọng nói của Thầy vẫn mạnh mẽ vui vẻ và nếu cần Thầy vẫn pha trò cho sự việc nhẹ nhàng, thông qua mà không căng thẳng, chúng con vẫn thường cười vui với những câu pha trò ý nhị của Thầy. Khi cần dạy cho ai đó một bài học, Thầy vẫn điềm đạm ôn tồn vậy mà công dụng những lời nói nhẹ nhàng đó vẫn vang dội như tiếng chuông đồng, như  “Sư Tử Hống” và kẻ lãnh hội bừng tỉnh lãnh nhận, cảm phục đức độ Thầy mà không hề thấy tổn thương hay buồn giận …

 

Hơn 30 năm qua, Phật giáo Hải ngoại đã có Thầy, đã nhờ Thầy mà lớn mạnh nở hoa trên đất người và cũng nhiều lần nhờ lòng từ bi và trí tuệ của Thầy mà chúng con thoát được những tai ách thị phi, bỉ thử của những kẻ không biết vì sao mà như có thù truyền kiếp với Phật giáo. “Thầy là ánh sáng dắt dìu lòng son, Thầy là con thuyền Thanh lương đưa chúng con tới bờ an vui”. Bài hát nầy, chúng con hát hoài, nghe hoài mà vẫn không chán, vì Thầy đúng là như vậy.

 

Chúng con nguyện cầu ơn trên Chư Phật luôn gia hộ Thầy, Pháp thể khinh an, Thọ mạng miên trường, Tuệ đăng thường chiếu, Pháp Trí nhị nghiêm để hộ trì Chánh pháp, Thầy là Thiền môn Thạch trụ để hàng đệ chúng con được nương nhờ, là bóng mát cội Tùng che chở chúng con.

 

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Sydney Xuân Bính Thân 2016

Đệ tử Diệu Hòa Ngọc Dung

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
19/10/2013(Xem: 9989)
Trưởng Lão Hòa Thượng thế danh Tôn Thất Thuế, sinh năm 1924 tại thôn Thanh Lương, xã Hương Xuân, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế. Ngài thuộc dòng dõi hoàng gia Đệ cửu hệ, Tứ phòng. Phụ thân là Cụ ông Tôn Thất Tích, pháp danh Nguyên Phước, mẫu thân là Cụ bà Phan Thị Cưỡng, pháp danh Nguyên Thâm, đều là những nông dân hiền lương, chất phác. Ngài có tất cả năm anh chị em, hai trai, ba gái. Hiện tại, một gái đã mất, còn Ngài và hai em gái đều theo Phật xuất gia. Hai thân Ngài đều đã khuất núi.
15/10/2013(Xem: 32717)
(Báo Viên Giác, Số 197, tháng 10-2013, Số Đặc Biệt tưởng niệm Cố Hòa Thượng Thích Minh Tâm (1940-2013)
10/10/2013(Xem: 23730)
Phạm Thiên Thư, Phạm Công Thiện, Lê Mạnh Thát, Tuệ Sỹ, Phạm thế Mỹ, Trịnh Công Sơn, Nguyễn Đức Sơn, Bùi Giáng, Trí Hải...
06/10/2013(Xem: 87991)
Trước khi Sài Gòn sụp đổ, tôi đã có một thời gian dài sống tại Lăng Cha Cả, gần nhà thờ Tân Sa Châu. Để đến được trung tâm Sài Gòn, từ Lăng Cha Cả phải đi qua những con đường Trương Minh Ký – Trương Minh Giảng (nay là đường Lê Văn Sĩ). Ở đoạn chân cầu Trương Minh Giảng có một cái chợ mang cùng tên và sau này
18/09/2013(Xem: 20102)
Mùa xuân đã bắt đầu, cảnh sắc xuân tươi nhuận chan hòa trải khắp toàn liên bang Úc châu; và đặc biệt là tiểu bang New South Wales, thành phố Sydney. Như thông báo đã loan tải trước, vào lúc 10.30am ngày chủ nhật, 15-9-2013, Giáo Hội PGVNTNHN tại Úc Ðại Lợi-Tân Tây Lan đã long trọng tổ chức Lễ Tưởng Niệm Hòa Thượng Thích Minh Tâm viên tịch tại Paris, Pháp Quốc năm tuần lễ trước.
17/09/2013(Xem: 32796)
Trong khuôn khổ của chương trình Giáo dục thường xuyên thuộc ngành y (Continuing Medical Education) của Viện đại học Harvard. Được tổ chức bởi Trường đại học Y khoa Harvard (Harvard Medical School) mà đứng đầu là các Giáo sư danh tiếng như: Christopher Germer, Judy Reiner Platt và Ronald D. Siegel vào các ngày 11 và 12 tháng Chín 2013 tại thính đường lớn của Boston Park Plaza Hotel, với một ban Giảng huấn hùng hậu gồm 14 vị Giáo sư đứng đầu là Thiền sư Thích Nhất Hạnh, sau đó mới tới các vị Giáo sư danh giá như: Lilian Cheung, Alice Domar, Elissa Ely, Christopher Germer, Devon E. Hinton, Judith V. Jordan, Jon Kabat-Zinn, David Leisner, Judy Reiner Platt, Susan M. Pollak, Ronal Siegal, David A. Sieberweig và Barent Walsh.
14/09/2013(Xem: 30672)
Hòa thượng Thích Đạt Đạo, thế danh Huỳnh Văn Hà, sinh năm Tân Mão (1951) tại xã Hạnh Thông, Quận Gò Vấp, tỉnh Gia Định, nay là Thành phố Hồ Chí Minh. Thân phụ là Cụ Ông Huỳnh Văn Chánh. Thân mẫu là Cụ Bà Lê Thị Kia, pháp danh Diệu Ca. II. Thời kỳ xuất gia học Đạo Vốn sinh ra trong một gia đình Phật tử thuần thành, nhiều đời tin kính Tam bảo, từ nhỏ Hòa thượng đã có thiện duyên với Phật pháp, được Cụ Ông, Cụ Bà thường xuyên dẫn đi chùa chiêm bái và lễ Phật. Năm 11 tuổi, Hòa thượng quy y năm giới với Hòa thượng Bổn sư thượng Đức hạ Chơn, pháp danh là Quảng Trí và sinh hoạt Gia đình Phật tử Quảng Hương. Với tâm nguyện muốn xuất gia học đạo, năm 13 tuổi (1964), Hòa thượng được Hòa thượng Bổn sư cho phép thế phát xuất gia và hành điệu tại chùa Long Huê, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh. Sau đó, Hòa thượng vào tu học ở Tu viện Quảng Hương Già Lam, từ năm 1966 - 1968.