Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Mạng Đế Vương

10/03/201610:09(Xem: 5464)
Mạng Đế Vương


HT Nhu Hue (24)

MẠNG ĐẾ VƯƠNG


 

Là người cùng dòng họ với Hòa thượng Phương trượng Pháp Hoa, từ nhỏ tôi được nghe kể nhiều những chuyện ngày xưa của Ông Bà, Thầy Tổ mình để lại, trong đó có Hòa Thượng. Nay nhân dịp được đóng góp bài vở cho kỷ yếu, Viên Trí xin ghi lại vài ký ức còn sót lại từ thời thơ ấu.

 

Khi còn hành điệu tại Tổ đình Chúc Thánh, cách đây cũng gần 30 năm, khi đó Hòa thượng Bổn Sư của tôi là HT Thích Trí Nhãn còn sanh tiền (tức Đại Sư huynh của HT Thích Như Huệ), Ngài thường hay nói : "Thầy Như Huệ có mạng đế vương, lúc nào, ở đâu, Thầy cũng luôn là người lãnh đạo Giáo Hội". Hồi đó tôi chỉ nghe như một đứa trẻ ngây ngô vậy thôi. Nhưng khi lớn lên mình mới thấy cái tình, và có một chút tự hào của vị Đại Sư huynh dành cho người Sư đệ.

 

Hòa thượng sanh năm 1933, trong một gia đình ảnh hưởng rất nặng Nho giáo, và sùng kính Tam Bảo. Thân phụ Hòa Thượng, Cụ ông Phạm Kim Cái, là một thầy thuốc Bắc nổi tiếng trong vùng (phường Cẩm Phô, Hội An) mà người trong xóm thường gọi là thầy Mười. Ông cụ có năm người con: Người con đầu Bà Phạm Thị Ty, kế đến Ông Phạm Kim Đồng, Phạm Kim Hiệp, Phạm Kim Tiền, và Hòa thượng là người con trai út, thứ sáu trong gia đình, Phạm Kim Lai. Trong các anh chị em thì có chị Hai, Phạm Thị Ty mất sớm. Nghe ông Nội (Ông Phạm Kim Hiệp) kể lại Bà Phạm Thị Ty tuy còn trẻ tuổi nhưng đã thành thạo nghề chẩn mạch bốc thuốc cho bịnh nhân. Riêng Hòa Thượng là người nhỏ tuổi nhất, nên được Thân phụ giao cho các anh Đồng, Hiệp dạy chữ Nho từ các sách Tam Tự Kinh, Ngũ Thiên Tự, Tam Thiên Tự, Minh Tâm Bửu Giám. Lúc bấy giờ chỉ học theo từng chữ một, như: Thiên trời, địa đất, cử cất, tồn còn..... Theo lời Hòa thượng kể: Cũng nhờ học những chữ Nho đơn sơ về ngữ nghĩa như vậy mà sau này Hòa thượng đã có cơ hội học nhanh hơn những bài kinh, luật của Phật khi đã xuất gia tu học.

 

Được nhân duyên gia đình ở cạnh chùa Viên Giác, Thân phụ thường hay qua lại trông nom chùa. Chùa Viên Giác khi đó chỉ là ngôi chùa làng, chưa có Thầy Trụ Trì, nên làng giao cho gia đình điều hành mọi Phật sự. Tất cả gia đình lớn nhỏ đều ra quy y với Hòa thượng Tăng Cang Thích Thiện Quả, tại Tổ Đình Chúc Thánh. Do những túc duyên đó, nên mới 8 tuổi Hòa thượng đã xin ra ở tập sự tại Chúc Thánh. Lên 11 tuổi thì Mẹ của Ngài mất sau một cơn bịnh. Nhìn thấy cảnh ân ái chia lìa đau khổ, vô thường giả tạm, nên đã thôi thúc ý thức một chú bé mới 11 tuổi hướng đến con đường xuất gia tu học càng mạnh hơn. Sau thời gian tập sự, lúc 12 tuổi, Hòa thượng đã được Thầy Bổn Sư chính thức cho xuống tóc, làm chúng xuất gia thường trụ trong Tổ đình. Khi vào Tổ đình xuất gia, Ngài cũng là một đệ tử gần như nhỏ nhất trong các vị đệ tử của Bổn Sư, nên Bổn Sư chọn Ngài làm thị giả. Nhờ được làm thị giả, sớm chiều thân cận qua thân giáo, ý giáo, khẩu giáo của Bổn Sư, đã ảnh hưởng đến tâm hồn trẻ của chú điệu Như Huệ lúc bấy giờ, vì thế mà Ngài trở nên rất hoàn chỉnh về oai nghi tế hạnh của người xuất gia.

 

Khi trưởng thành, Hòa thượng được Bổn Sư cho ra Huế học, sau đó thì được HT Trí Hữu từ Sài Gòn về giới thiệu vào học tại Phật học đường Ấn Quang. Cũng xin kể thêm rằng, khi đó Hòa thượng đi vào Sài Gòn bằng tàu thủy, khoảng cách một ngàn cây số, chắc cũng phải mất gần một tuần lễ mới đến nơi.  Hòa thượng theo học với các vị Cao Tăng lừng danh như HT Thiện Hoa, HT Thiện Hòa, Thiền Sư Nhất Hạnh, giáo sư Cao Hữu Đính....Học cùng lớp với Ngài lúc đó các vị như HT Thanh Từ, HT Huyền Vi, HT Tịnh Hạnh.... Sẵn có căn tánh bẩm sinh, và tu học rất tinh tấn, nên sau khi ra trường, Hòa thượng đã được HT Thích Trí Quang, HT Thích Thiện Minh cử đi hoằng Pháp khắp nơi từ miền Trung đến Miền Nam, từ thôn quê đến thành thị. Nhờ có giọng nói thanh cao, rõ ràng của giọng Quảng Nam mạnh mẽ cùng pha trộn một chút miền Nam mềm mại, nên Hòa thượng đã phương tiện diễn bày Phật Pháp rất thu hút người nghe. Nhất là thời kỳ chiến tranh, Phật giáo bị đàn áp, kỳ thị, nên những buổi diễn thuyết cho quần chúng hiểu được Phật Pháp, hiểu được sự công bằng tôn giáo, tín ngưỡng để bảo vệ Chánh pháp là rất quan trọng. Sau khi được thuyên chuyển công tác Phật sự từ Kon Tum về Quảng Nam để đảm nhận những chức vụ quan trọng trong Phật giáo tỉnh nhà (xin đọc tiểu sử), Hòa thượng cùng với các vị HT Như Vạn, HT Long Trí, HT Chơn Phát hợp lực với nhau sinh hoạt Phật sự một cách rất thành công và hợp ý nhau. Cũng theo lời Hòa thượng kể: Đi cúng, đi thuyết Pháp, đi đưa đón các bậc Tôn Túc từ xa đến thăm, đi cứu trợ... đều có bốn anh em đi cùng. Cho nên lúc bấy giờ mọi người thường đặt cho cái tên của 4 vị này là "Quảng Nam Tứ Trụ" tức là như bốn cây trụ cột để chống đỡ ngôi nhà Giáo Hội. Quảng Nam là một tỉnh có nhiều huyện ở những vùng núi xa xôi như Tý, Xé, Dùi Chiên, Đèo Le, Thạch Bích... là những thôn huyện ngăn sông cách đò nhất. Vào những mùa Đông, giá lạnh, có lúc Phật sự cần phải đi, "Tứ Trụ" này đạp xe đạp suốt cả 2 ngày trời mới đến. Trong Bốn vị chỉ có HT Chơn Phát là không biết đi đạp xe, nhưng Ngài lại là người to lớn, nặng nhất trong nhóm, cho nên ba anh em kia phải thay phiên nhau đèo Ngài ngồi phía sau. Có những chuyến đi trong thời tiết quá khắc nghiệt, khi đến nơi cả bốn anh em đều bị bịnh và mệt, nhờ Phật tử cạo gió xong rồi về, mệt quá không thuyết giảng được gì cả.

 

Trong "Tứ Trụ" thì HT Thích Như Vạn là người Pháp hữu có nhiều kỷ niệm nhất với HT Thích Như Huệ. HT Như Vạn xuất gia trễ hơn HT Như Huệ, nhưng tuổi lớn hơn, nên HT Như Huệ cũng xem như là Sư huynh. Huynh đệ có sự nhường nhịn và giúp đỡ với nhau như hai cánh tay trên một cơ thể, người này ngã, người kia nâng đỡ. Nhưng không may, sau năm 1975, HT Như Vạn vì một biến cố qua đời, nên HT Như Huệ thật vô cùng buồn bã, mất mát. Quý Thầy lúc đó kể là HT Như Huệ khóc HT Như Vạn như là người con mất mẹ, như Ngài A Nan khóc khi Phật Niết Bàn. Phần thì vận nước biến chuyển, phần thì Huynh đệ cách biệt, chia lìa, nên Hòa thượng đã rời bỏ miền Trung với biết bao kỷ niệm thân thương của một thời thơ ấu, rồi đến một thời hào hùng lãnh đạo và tranh đấu cho sự sống còn của Phật giáo, Ngài vào miền Nam một thời gian mà nỗi ray rứt trong lòng cũng không nguôi, rồi Ngài lại theo những dòng người ra đi vượt biên, và cuối cùng Ngài định cư tại Nam Úc.


"Quảng Nam Tứ Trụ" tức là như bốn cây trụ cột để chống đỡ ngôi nhà Giáo Hội.

HT Thich Nhu Van
1/ HT Thích Như Vạn, Phó Đại Diện, kiêm Đặc Ủy Cư sĩ GHPGVNTN tỉnh Quảng Nam,

Trụ Trì Tổ đình Phước Lâm, Thầy Bổn Sư của cố HT Thích Hạnh Tuấn (Trụ Trì Chùa Trúc Lâm, Chicago, Hoa Kỳ)

HT Thich Long Tri
2/ HT Thích Long Trí, Nguyên Phó Nội Vụ, kiêm Đặc Ủy Thanh Niên Tỉnh Giáo Hội Phật Giáo Quảng Nam,

Trụ Trì chùa Viên Giác, Quảng Nam, đệ tử của Ngài có HT Thích Tâm Thanh (một Giảng sư nổi tiếng) và HT Thích Như Điển (Phương trượng Chùa Viên Giác, Đức Quốc, là Đệ Nhị Chủ Tịch HĐĐH GHPGVNTN Âu Châu hiện nay).

HT Thich Chon Phat
3/ HT Thích Chân Phát, Nguyên Đặc Ủy Tăng Sự GHPGVNTN tỉnh Quảng Nam, Trụ Trì chùa Long Tuyền,

(một thắng cảnh của Phố cổ Hội An) và là Giám đốc một Phật Học Viện đầu tiên của Quảng Nam trước 1975.

HT Thich Nhu Hue
4/ HT Thích Như Huệ, lãnh đạo PG Úc Châu trong 35 năm qua (xem bài viết khác)

Ngài từng là Chánh Đại Diện GHPGVNTN tỉnh Quảng Nam, Giám Đốc Trường Bồ Đề Hội An

và xây dựng thành công nhiều công trình cho Phật giáo tỉnh nhà.



Hòa thượng thường hay kể, khi ra đi trên chiếc thuyền mỏng manh, lênh đênh nhiều ngày trên biển, Ngài có ba nguyện ước nếu được đi đến bất cứ nơi nào thì: Một là sẽ xây dựng một đạo tràng cho Phật tử tu học, hai là xây dựng một tượng đài Quán Âm lộ thiên, ba là chiêm bái những thánh tích Phật giáo tại Ấn Độ. Những ước nguyện đó đối với hôm nay thì chắc không có gì khó, nhưng trong lúc khó khăn thời đó, thức ăn không có, tương lai mờ mịt, cái sống và chết gần kề thì bất cứ một ước nguyện gì cũng có giá trị và cao cả. Thật vậy, khi qua Úc, không những Ngài đã hoàn thành những ước nguyện năm xưa, mà Ngài còn cùng chung sức với chư Tôn Đức tại Úc Châu xây dựng Giáo Hội. Ngài đã từng là Phó Viện Trưởng Viện Hoằng Đạo, kiêm Tổng Vụ Trưởng Tổng vụ Hoằng Pháp, sau đó Ngài làm Hội Chủ Giáo Hội PGVNTN Hải Ngoại tại Úc Đại Lợi và Tân Tây Lan trong suốt một chặng đường dài 4 nhiệm kỳ - 16 năm. Nhờ vào đức độ và kinh nghiệm, Hòa thượng đã tạo cho Phật Giáo Việt Nam tại Úc Châu ngày càng lớn mạnh, Tăng, Ni hòa hợp.

Nếu quý vị đọc tiểu sử của Ngài sẽ thấy một cuộc đời, một hành trạng thật nhiều thăng trầm với bao phong sương tuế nguyệt, nhưng vẫn vươn lên và thành công với bản lãnh tài ba, đức độ của mình. Đúng như lời Sư phụ của mình đã từng nói "Thầy Như Huệ có mạng đế vương" thật là không sai.

 

Viết tại Chùa Pháp Hoa, Nam Úc, 1/3/2016

Thích Viên Trí (Hạnh Thiện)

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
16/12/201022:20(Xem: 2346)
Xin cầu nguyện cho tất cả chúng sinh được hạnh phúc, bình an và giải thoát. Tác giả mang ơn sâu đối với Thiền Sư Thích Thanh Từ và Giáo Sư Tiến Sĩ Trí Siêu Lê Mạnh Thát vì các công trình nghiên cứu và dịch thuật của hai thầy mà tác phẩm này đã dựa vào để tham khảo; và đối với bổn sư tác giả là Thiền Sư Thích Tịch Chiếu. Tác phẩm này được đặc biệt dâng tặng tới các thế hệ trẻ, và phổ quát dâng tặng cho tất cả chúng sinh.
23/10/201007:18(Xem: 3069)
Nhiều thế kỷ trước, một vị vua đã lãnh đạo dân tộc Việt Nam hai lần đẩy lui quân Mông Cổ xâm lăng. Một hôm, vào năm 1293, vị vua anh hùng này đã rời ngôi vua, và vài năm sau trở thành một nhà sư và đã để lại một di sản Thiền Tông bây giờ vẫn còn phát triển để trở thành dòng Thiền lớn nhất tại Việt Nam. Ngài tên là Trần Nhân Tông, vị vua thứ ba của Nhà Trần và là vị sáng lập Dòng Thiền Trúc Lâm.
19/12/201018:24(Xem: 7700)
Nhiều thế kỷ trước, một vị vua đã lãnh đạo dân tộc Việt Nam hai lần đẩy lui quân Mông Cổ xâm lăng. Một hôm, vào năm 1293, vị vua anh hùng này đã rời ngôi vua...
09/08/201102:16(Xem: 1894)
Vua Trần Nhân Tông (1258-1308) sau khi khoác tăng bào ở tuổi 40 đã chu du khắp nơi để thuyết pháp, giảng kinh, khuyên dân chúng giữ gìn mười điều lành, và từng trở về kinh đô Thăng Long tổ chức lễ thụ Bồ tát giới cho vua Trần Anh Tông và quan lại triều đình.
10/08/201101:10(Xem: 1601)
Cuộc đời xuất gia của Tổ Trúc Lâm là một cuộc đời hoạt động sôi nổi, tích cực. Ngoài các mùa kết hạ tại các am núi hay các chùa, thời gian còn lại Ngài thường đi vân du hoằng hoá đây đó. Năm 1304, “Điều Ngự đi khắp mọi nẻo thôn quê, khuyên dân phá bỏ các dâm từ [đền miếu thờ các thần sằng bậy] và thực hành giáo lý Thập thiện”. Ngài muốn xây dựng một xã hội trên nền tảng luân lý đạo Phật, góp phần củng cố triều đại thời hoàng kim của mình. Đức Điều Ngự Giác Hoàng Đệ nhất Tổ Trúc Lâm Yên Tử Trần Nhân Tông sinh ngày 11 tháng Mười một năm Mậu Ngọ (tức 7 – XII - 1258). Năm 21 tuổi (1279), Ngài lên ngôi vua, trải qua hai niên hiệu là Thái Bảo và Trùng Hưng.
10/08/201100:53(Xem: 1719)
Trần Nhân Tông phải được coi là nhân vật kiệt xuất nhất trong lịch trình phong kiến Việt Nam và cũng là nhân vật kiệt xuất nhất trong sơ đồ Phật giáo Việt Nam, một trong những niềm tự hào lớn lao nhất của dân ta.
10/08/201100:51(Xem: 2723)
Về cuộc đời và sự nghiệp lịch sử, giải thoát của vua Trần Nhân Tông, đã có nhiều công trình biên khảo: Trần Nhân Tông, thiền sư Việt Nam; Trần Nhân Tông, nhà văn hóa; Trần Nhân Tông, nhà thơ; Trần Nhân Tông, nhà quân sự; Trần Nhân Tông, nhà lãnh đạo lỗi lạc; Trần Nhân Tông, nhà tư tưởng... Trong bài khảo luận ngắn này, người viết chỉ đề cập đến một số nét tiêu biểu về Tiểu sử, sở đắc giải thoát và Tư tưởng Phật học của Người.
24/06/201100:32(Xem: 2474)
Trận chiến thắng Bạch Đằng của Ngô Vương Quyền năm 939 là một dấu mốc quan trọng trong lịch sử dựng nước của Việt Nam. Ngọn sóng Bạch Đằng Giang đã cuốn trôi đi nỗi đau nhục của người dân nô lệ, nhận chìm tham vọng của nòi Hán áp đặt lên đất nước ta trong suốt một ngàn năm. Từ đây Việt Nam không còn là một huyện lỵ của người Hán, từ đây một quốc gia đúng nghĩa đã xuất hiện dưới vòm trời Đông Á.
23/10/201008:12(Xem: 2075)
Trong mười thế kỷ phong kiến Việt Nam, Trần Nhân Tông là một trong những ông vua giỏi và tài hoa bậc nhất. Lịch sử đã xem ông là “vị vua hiền” đời Trần, có công lớn trong sự nghiệp trùng hưng đất nước. Văn học sẽ nhớ mãi ông bởi những vần thơ thanh nhã, sâu sắc và không kém hào hùng.
10/08/201100:56(Xem: 2411)
Đã có 92 tham luận của chư Tôn đức Tăng Ni, Phật tử, các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước gửi đến cuộc hội thảo khoa học về cuộc đời và sự nghiệp của Đức vua – Phật hoàng Trần Nhân Tông hôm qua 26-11, tại thị xã Uông Bí (Quảng Ninh).