Chân thành cảm tạ

18/12/201505:58(Xem: 9784)
Chân thành cảm tạ

thich hanh tuan 6

CHÂN THÀNH CẢM TẠ


Kính bạch chư Tôn Đức,

Thưa toàn thể Quý vị,

Ngồi viết những dòng chữ này sau khi tang lễ Thầy Hạnh Tuấn hoàn tất được 6 tuần lễ, chúng tôi vẫn còn thấy xót xa, tiếc thương cho một người Pháp lữ, một vị Thầy Cố vấn Giáo hạnh của tổ chức GĐPT, một người con xứ Quảng thân thương đã đóng góp những việc làm xứng đáng cho một đời người. Thầy đi, thật sự đã để lại cho chúng ta nhiều thương mến và xúc động.

Hình ảnh của chư Tôn Giáo Phẩm thuộc các Giáo Hội, các Tự viện xa gần, cùng với Đồng hương, Thiện hữu Tri thức và Anh chị em Huynh trưởng, Đoàn sinh của tổ chức GĐPT hiện diện trong những ngày tang lễ ở chùa Trúc Lâm, Chicago, đã nói lên tấm lòng trân quí của mình. Chúng tôi xin đại diện Ban Tổ chức Tang lễ kính lời chân thành cảm tạ Quý Ngài và Quý vị trong Đạo tình, Thân tình quý báu và trân trọng nhất.

Phần còn lại với tập Kỷ Yếu Tưởng Niệm Hòa thượng Thích Hạnh Tuấn, một cố gắng nhằm ghi lại một số công việc và hình ảnh liên quan cuộc đời hành hoạt của Thầy ở quê hương và trên xứ Mỹ, mà sự đóng góp của tất cả Quý vị là niềm an ủi lớn lao cho chúng tôi. Với những tâm tình hiện thành dòng chữ trong những bài viết, bài thơ, hay điếu văn tưởng niệm và tịnh tài ủng hộ để làm nên tập Kỷ Yếu này, công đức của Quý vị thật vô lượng vô biên. Chúng tôi xin nhất tâm hồi hướng lên ngôi Tam Bảo, kính mong Giác linh Hòa thượng Tân Viên tịch chứng minh.

Vì số trang có hạn và hoàn cảnh không cho phép, một số ý kiến cũng như bài vở không thể thực hiện được trong tập Kỷ Yếu này, chúng tôi đã mạo muội nhờ đăng trên trang nhà Quảng Đức, www.quangduc.com, để làm kỷ niệm cho nhau.

Kính chúc Quý Ngài và Quý vị được nhiều sức khỏe, an lành.

Trân trọng,

HT Thích Minh-Đạt

Trưởng Ban Tổ chức Tang lễ

 

Ý kiến bạn đọc
28/12/201515:17
Khách
Kinh dang Thay nen huong kinh bai
Hoa Thuong Thich Hanh Tuan
Tru tri chua Truc Lam. Chicago
Thu nay da di xa.
Thu nay Thay da di xa ,
Chung con Phat tu bui ngui nho thupng ,
Thay khuyen giang , giai ,moi duong
Chung con tho hieu am tuong loi di
Loi di cua Dang Tu Bi
Song nguyen tu hanh , chet nguyen vang sanh.
Suot doi Thay day lam lanh
Lam theo thuyet giang Thay ban moi lan
Thay la chinh Bac Vi Nhan
Lai thuyen Bat Nha Truc Lam som thanh
Nguyen cau Thay duoc vang sanh
Lam xong nguyen uoc cua Thay kiep sau
Cong duc Thay nguyen rat cao
Mo mang Tinh Xa ,phuc cao on day ,
Phat tu :Tung Tran
Phap danh : Dieu Nhan
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/04/2013(Xem: 10142)
Hòa Thượng Bửu Chơn thế danh là Phạm Văn Thông, sinh năm Tân Hợi (1911) tại Sa Đéc – Đồng Tháp. Thuở thiếu thời Ngài sinh sống tại đất nước Chùa Tháp Campuchia, do đó Ngài thấm nhuần Phật Giáo Nam Tông vốn là quốc giáo của Vương quốc này. Sẵn có túc duyên Phật pháp nên vào năm 1940, Ngài xuất gia thuộc hệ phái Nam Tông. Sau đó Ngài vào rừng chấp trì hạnh đầu đà (Dhatanga) suốt mười hai năm. Năm 1951 Ngài được Phật tử Việt Nam cung thỉnh về Sài Gòn để truyền bá giáo pháp Nguyên Thủy
09/04/2013(Xem: 9109)
Hòa thượng thế danh là Võ Hóa, pháp danh Chơn Húy, pháp hiệu Khánh Anh, Ngài sinh năm Ất Mùi (1895) tại xã Phổ Nhì, tổng Lại Đức, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi. Khi nhỏ, Ngài theo học Nho, luôn tỏ ra là một Nho sinh xuất sắc.
09/04/2013(Xem: 10600)
Hòa thượng Khánh Hòa thế danh Lê Khánh Hòa, Pháp danh Như Trí, pháp hiệu Khánh Hòa, sinh năm Mậu Thân (1877) tại làng Phú Lễ, tổng Bảo Trị, quận Ba Tri, tỉnh Bến Tre.
09/04/2013(Xem: 9083)
Hòa thượng Thích Hưng Từ, thế danh Bùi Vạn Anh, sinh ngày mùng 1 tháng 8 năm Tân Hợi ( 1911 ) tại làng Bình Hòa, xã An Dân, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên. Ngài sinh trong một gia đình có truyền thống đạo Phật. Thân phụ là cụ Bùi Thế Vĩ, pháp danh Như chơn, thân mẫu là cụ bà Võ Thị Biểu, pháp danh là Thị Bửu. Từ nhỏ Ngài được song thân giáo dục trong tinh thần từ bi và chan chứa đức hỷ xả của Phật, nên Ngài sớm mộ cửa Thiền.
09/04/2013(Xem: 8552)
Hòa thượng Huệ Quang, thế danh Nguyễn Văn Ân sing năm 1888 tại Ô Môn, tỉnh Cần Thơ, sau theo mẹ về Trà Vinh. Năm 1902,Ngài xin xuất gia vào chùa Long Thành ở Trà Cú được Hòa thượng Thiện Trí mến thương đặt danh pháp là Thiện Hải. Ngoài giờ học Phật pháp, Ngài lại được Hòa thượng cho học thêm y học.
09/04/2013(Xem: 8707)
Hòa thượng Thích Phúc Hộ, thế danh là Huỳnh Văn Nghĩa, sinh ngày 24 tháng 7 năm Giáp Thìn (1904) đời vua Thành Thái năm thứ 16 tại làng Triều Sơn, xã Xuân Thọ, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên. Song thân của Ngài là cụ ông Huỳnh Trung và cụ bà Trần Thị Nho.
09/04/2013(Xem: 9802)
Chùa Thập Tháp là một trong số các ngôi tổ đình nổi tiếng của đất Bình Định Nếu như ở thời kỳ khởi đầu, ngôi tổ đình ấy được chú ý nhiều vì vị khai sơn là Thiền sư Nguyên Thiều - người có công lớn trong sứ mạng truyền bá Phật giáo ở Đàng Trong thời Nam Bắc phân tranh, hậu bán thế kỷ 17 ; thì vào thời hiện đại, tổ đình Thập Tháp được cả nước biết đến vì sự có mặt của Quốc sư Phước Huệ (1869-1945).
09/04/2013(Xem: 9852)
Ngài đã nêu cao tinh thần Bi, Trí, Dũng phục vụ chúng sinh, cống hiến trọn vẹn đời mình cho sự nghiệp chung của đạo pháp và dân tộc Việt Nam. Hòa thượng Thích Trừng San, pháp tự Minh Hiền, hiệu Hải Tuệ, thế danh Nguyễn San sau đổi là Trần Văn Lâu, nối pháp đời thứ 42 dòng Lâm Tế Liễu Quán. Ngài sinh năm Nhâm Tuất (1922), tại thôn Phú Khánh, xã Diên Thạnh, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa. Năm lên 8 tuổi, được song thân cho xuất gia học đạo với Hòa thượng Phổ Hiện, tại chùa Khánh Long, Diên Khánh. Sau khi Bổn sư viên tịch, Ngài y chỉ với Hòa thượng Chánh Ký, kế vị trụ trì chùa Khánh Long. Năm 1943 được y chỉ sư gửi đến thọ giáo với Hòa thượng Bích Không, trụ trì chùa Hải Đức (Nha Trang).
09/04/2013(Xem: 12771)
Hòa thượng Giới Nghiêm thế danh là Nguyễn Đình Trấn, sinh ngày 5 tháng 5 năm 1921, tại làng Gia Lê Thượng, xã Thủy Phương, huyện Hương Phú, tỉnh Thừa Thiên - Huế. ngài xuất thân trong một gia đình gồm ba anh em, có tinh thần yêu nước và có truyền thống đạo đức lâu đời. Ông nội là bậc xuất gia, cha là Hòa Thượng Quang Diệu, chú cũng xuất gia, bác là Hòa thượng Phước Duyên.
09/04/2013(Xem: 8236)
Hòa thượng pháp danh Thị An, pháp tự Hành Trụ, pháp hiệu Phước Bình, thuộc dòng Lâm Tế Chúc Thánh đời thứ 42. Ngài thế danh là Lê An, sinh năm 1904 trong một gia đình trung nông tại làng Phương Lưu, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên. Thân phụ là cụ Lê Uyển, thân mẫu là bà Nguyễn Thị Sử. Ông Bà có bốn người con, cả ba người con trai đều xuất gia đầu Phật.