Chúng con nhớ Thầy

08/12/201520:40(Xem: 9806)
Chúng con nhớ Thầy

Bài Tưởng niệm của Đoàn Oanh Vũ Nam - GĐPT Trúc Lâm

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Chúng con kính bạch Quý Chư Tôn Đức Tăng, Ni,

Chúng con kính bạch Giác Linh Thầy

Hôm nay tất cả HT Đoàn Oanh Vũ Nam quỳ trước Giác linh Thầy để hoài niệm những ngày mà chúng con được sống và làm việc với Thầy trong suốt 10 năm Thầy về với Chùa Trúc Lâm. 

Thầy ơi, bây giờ bên ngoài trời đã vào Thu, khung cảnh mùa Thu gợi cho chúng con một nỗi buồn man mát trong lòng. Chúng con cảm thấy trống vắng và buồn lắm vì chúng con phải chấp nhận một sự thật là Thầy kính yêu của chúng con đã viên tịch. Và từ bây giờ chúng con vĩnh viễn không còn gặp Thầy nữa.  

Dẫu biết rằng đời là vô thường, không ai tránh khỏi sự sinh, lão, bệnh, tử. Nhưng khi phải đối diện với sự thật này, chúng con vẫn không cầm được nước mắt, Thầy ơi!…Hôm nay chúng con tề tựu về đây và quỳ xung quanh kim quan Thầy để làm lễ Tưởng niệm Thầy, chúng con vẫn còn có cảm tưởng như Thầy vẫn còn ở nơi này, cười, nói, nhắc nhở và chăm sóc cho chúng con, như chăm sóc đàn con yêu thương của mình.

Mười năm đã trôi qua với sự hướng dẫn của Thầy tại Trúc Lâm.  Đoàn Oanh Vũ chúng con đã bao lớp trưởng thành. Thầy ơi, Thầy còn nhớ không? Nhiều em giờ đây đã lên làm Huynh Trưởng nối truyền hạnh nguyện từ các anh chị Trưởng của mình. Cũng đã có rất nhiều em giờ đây đã lên ngành thiếu. Cũng có rất nhiều em giờ đây đang đi học ở các trường đại học.  Thầy thấy có vui không Thầy?  

Thầy đã không những chăm sóc cho chúng con về mặt tinh thần, mà còn luôn muốn đàn con của Thầy phải học và nói cho giỏi tiếng Việt.  Thầy thường khuyến khích chúng con tạo tất cả điều kiện cho các em thi đọc và nói tiếng Việt.  Thầy rất vui khi thấy chúng con có lên chương trình cho thi đố vui Phật Pháp và thi Việt ngữ. 

HT Hanh Tuan-phat tu truc lam 11 (3)

Chúng con còn nhớ rất rõ trong mỗi dịp xuân về, Thầy muốn chúng con tổ chức cho các em thi đọc tiếng Việt và Thầy nói với chúng con là Thầy đã để dành tiền để thưởng cho các em con rất nhiều, Thầy còn nói rằng nếu số tiền Thầy để dành mà không đủ tiền thưởng cho các em thì Thầy sẽ đi vận động Quý Thầy và quý Bác trong Chùa để chúng con có đủ tiền thưởng hơn khả quan cho các em mình.  Ôi, hoài niệm lại những lời Thầy dạy mà sao chúng con nghe trong lòng đau nhói, như muốn hòa khóc lên cho thỏa chí. Chúng con thật sự rất cần Thầy, các em chúng con rất cần sự hướng dẫn của Thầy. 

Chúng con còn nhớ vào những ngày cuối tuần, khi chúng con có dịp lên Chùa, chúng con thường xuyên thấy Thầy đem những đoạn phim ca nhạc cũ được quay trong những đêm Hội Làng đón giao thừa tại Trúc Lâm. Thầy xem rất say sưa, như hồi tưởng lại lúc Thầy còn là oanh vũ. Khi Thầy thấy chúng con thì Thầy lại nói vào đây xem với Thầy. Rồi Thầy nói khẽ với chúng con, “Con thấy không các em oanh vũ có dễ thương không con? Các em ca, múa có hay không?”

Mỗi lần đến tiết mục của Oanh Vũ Nam, chúng con lại thấy Thầy cười khi xem các em trình diễn. Chúng con cũng biết rằng các em của chúng con trình diễn còn vụng về lắm, nhưng trong ánh mắt Thầy, ánh mắt một vị Cha hiền của chúng con thì đâu đâu cũng đẹp, đâu đâu cũng hay, đâu đâu cũng dễ thương.  Ôi hạnh phúc thay khi nghe Thầy khen các em chúng con. 

Thật không có một ngôn từ nào có thể diễn tả được tình thương yêu của Thầy đã dành cho các em oanh vũ chúng con. Giờ đây, đứng trước Giác Linh Đài Thầy, chúng con có bao nhiêu ngậm ngùi, thương tiếc, nhớ thương, và bao kính mến nhưng không biết nói với Thầy thế nào đây. Chúng con chỉ còn cách đem hết lòng thành kính cầu cho Chư Phật mười phương tiếp độ Giác Linh Thầy về Cực Lạc quốc. Chúng con nguyện ghi nhớ những lời dạy quý báu và noi gương theo những hạnh nguyện cao cả của Thầy.

Nam mô Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật.

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
28/09/2010(Xem: 11147)
Hòa Thượng THÍCH QUẢNG TÂM (1947 - 2010), húy Như Hảo, thế danh Lê Tấn Quang, sinh ngày 12 tháng 8 năm Đinh Hợi (1947) tại làng Thạch Trụ huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi trong một gia đình nhiều đời thâm tín Tam Bảo và có truyền thống xuất gia tu học.
23/09/2010(Xem: 8884)
Hòa Thượng Thích Phước Huệ sanh năm 1922, tại ấp Mỹ Thủy, xã Thạnh Mỹ Lợi, quận Thủ Đức, tỉnh Gia Định, miền Nam Việt Nam. Thân phụ là cụ ông Trần Văn Hoạch, thân mẫu là cụ bà Lê Thị Ngọc.
19/09/2010(Xem: 11048)
Ngay từ hồi nhỏ tâm hồn tôi đã hướng về đạo Phật. Tôi it nói, sống trong trầm lặng, ham đọc sách, nhất là những sách về đạo Phật viết cho trẻ em. Tôi chỉ có vài đứa bạn cũng giống tính tôi, gặp nhau thì vào buồng thủ thỉ thù thì nói chuyện với nhau. Cha tôi buôn bán lớn, giao thiệp nhiều, và cũng như phần đông các nhà kinh doanh hồi đó, đều quen biết các vị sư và đóng góp nhiều cho chùa chiền. Khi các thầy đến thăm cha tôi, lúc nào tôi cũng đứng gần nghe ngóng say sưa và dâng trà cho các thầy.
04/09/2010(Xem: 9284)
"Cây héo vào xuân hoa nỡ rộ Gió đưa nghìn dặm nức hương thần." Thiền Uyển Tập Anh ( Anh Tú Vườn Thiền) ghi về sư như sau: " Thiền Sư Viên Chiếu (999-1090) thuộc thế hệ thứ bảy dòng Vô Ngôn Thông.Thiền Sư họ Mai, tên Trực người huyện Long Đàm châu Phúc Điền, là con người anh thái hậu Linh Cảm đời Lý. Thuở nhỏ ông thông minh mẫn tuệ, hiếu học. Nghe tiếng trưỡng lão ở chùa Mật Nghiêm giỏi xem tướng, ông bèn đến nhờ xem hộ.
21/08/2010(Xem: 15600)
Tại một ngôi chùa Việt ở Bangkok (Thái Lan), nhục thân của Hòa thượng Thích Phổ Sái vẫn còn nguyên vẹn hình hài sau hơn 50 năm kể từ khi ngài viên tịch. Tọa lạc tại khu Yaowarat (khu phố Tàu) ở Bangkok, ngôi chùa mang tên rất Việt Nam là Khánh Vân có một lịch sử lâu đời do các Hòa thượng người Việt thành lập. Đây là một trong những ngôi chùa Việt thuộc hệ Annamnikaya hay còn gọi là An Nam Tông ở Bangkok. Chính tại chùa Khánh Vân này, nhục thân của Hòa thượng Thích Phổ Sái (pháp danh Giác Lượng), một nhà tu hành gốc Việt, được lưu giữ và thờ cúng.
18/07/2010(Xem: 9863)
Kính bạch Sư Tổ! Chúng con đang tập tiếp xúc với Người qua hình ảnh một bậc thầy già chốn núi rừng Dương Xuân. Một túp liều tranh, một bà mẹ già và với ba người đệ tử. Đó là khoảng thời gian hạnh phúc nhất của Sư Tổ. Người có thời gian chăm sóc mẹ già và trao truyền những hoa trái tu học cho những người học trò yêu quý. Xuất thân từ làng Trung Kiên – một vùng đất Phật giáo ở Quảng Trị, Sư Tổ đã đến chùa Thiên Thọ (Báo Quốc) núi Hàm Long – Huế, để xuất gia học đạo với Thiền sư Phổ Tịnh, lúc đó Người chỉ mới lên bảy tuổi. Đến năm 30 tuổi, nhận thấy nơi Sư Tổ có chí khí của một bậc Xuất trần nên Sư Tổ được Bổn sư phú pháp truyền đăng với bài kệ: Nhất Định chiếu quang minh Hư không nguyệt mãn viên Tổ tổ truyền phú chúc Đạo Minh kế Tánh Thiên.
04/07/2010(Xem: 13821)
-Người đi tiên phong và nỗ lực không mệt mỏi cho sự nghiệp phát triển trí tuệ, từ bi và hòa bình- -Nhà lãnh đạo toàn cầu trong phong trào vì hòa bình, nhân quyền và sức khỏe cộng đồng-
14/06/2010(Xem: 8381)
Hòa Thượng Thích Bích Nguyên là một trong những bậc cao Tăng thạc đức của Phật giáo Lâm Đồng. Ngài họ Nguyễn, húy là Tùng, sinh năm 1898 tại làng Duy Hòa, xã Triệu Hòa, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Thuở nhỏ, bẩm chất thông minh, đĩnh ngộ. Thời tráng niên, lập nghiệp ở Lào, Hòa Thượng nhân đọc báo Từ Bi Âm mà ngộ đạo, thấy rõ cuộc đời vô thường, nuôi chí xuất gia. Đến năm 29 tuổi (1927), Hòa Thượng mới có đủ nhân duyên đầu sư thọ giáo với Hòa Thượng PHƯỚC HUỆ, Trú trì chùa Hải Đức, Huế và đắc giới Sa di năm 1934. Năm 1936, ngài thọ Cụ túc giới với pháp hiệu BÍCH NGUYÊN, rồi theo học ở các lớp Phật học tại các Phật học viện Hải Đức, Bảo Quốc và Ấn Quang.
15/05/2010(Xem: 8084)
Thiền sư Khánh Hòa sinh năm 1877 tại làng Phú Lễ tỉnh bến Tre, xuất gia năm 19 tuổi tại chùa Khải Tường. Chí nguyện chấn hưng Phật giáo của ông phát sinh vào khoảng năm ông được bốn mươi tuổi. Ông du hành khắp các tổ đình và Nam Kỳ để gây ý thức chấn hưng và kêu gọi sự hợp tác của các bậc tôn túc.