Thầy kính yêu

08/12/201520:37(Xem: 10141)
Thầy kính yêu

Bài Tưởng niệm của Đoàn Oanh Vũ Nữ - GĐPT Trúc Lâm

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Chúng con kính bạch Quý Chư Tôn Đức Tăng, Ni,

Chúng con kính đảnh lễ trước Giác Linh Thầy kính yêu,

Những chiếc lá vàng vẫn lặng lẽ rơi ngoài sân chùa, chỉ còn hai đêm nữa thôi là chúng con sẽ xa Thầy mãi mãi, nhưng trong tâm trí chúng con vẫn in đậm bóng hình Thầy khả kính.

Con còn nhớ, có những chiều Chủ nhật sinh hoạt, sau khi họp Huynh trưởng, con bắt gặp Thầy đang ngồi xem đi xem lại những thước phim ca nhạc của nhiều năm về trước. Thầy chỉ cho con những em oanh vũ ngày xưa nay đã là thiếu nam thiếu nữ. Thầy cũng nhớ và nhắc về những em không còn sinh hoạt nữa với đôi mắt đượm nét buồn sâu. Thầy đã luôn âm thầm lặng lẽ dõi theo từng bước trưởng thành của các em con như người cha già mong chờ đàn con đi học xa về thăm nhà.

Thầy của chúng con rất gần gũi và tâm lý. Vào những ngày sinh hoạt các em oanh vũ chúng con rất hiếu động, chạy nhảy chơi đùa ồn ào trong khuôn viên chật hẹp của chùa. Ở cương vị anh chị Trưởng, chúng con đã nói các em giữ im lặng để Thầy nghỉ ngơi. Khi Thầy nghe được,Thầy đã la rầy chúng con rằng "Nghỉ ngơi thì nghỉ ngày khác, Chủ nhật là dành cho các em" hoặc khi Thầy thấy chúng con bắt các em tu và học nhiều quá, Thầy cũng nhẹ nhàng nhắc nhở chúng con là phải cho các em có thời gian vui chơi hồn nhiên nhiều hơn.  Chúng con hiểu được tình yêu màu lam da diết trong Thầy, bởi lẽ Thầy đã luôn thấy hình ảnh Oanh vũ của mình nơi các em con.

Thầy không chỉ chăm lo cho các em đoàn sinh mà còn rất quan tâm sâu sắc đến các anh chị Trưởng.  Mỗi khi Thầy không đi xa, Thầy thường đi ra vào hỏi thăm từng anh chị em chúng con không thiếu một ai.  Thầy đã gọi hỏi thăm con của một Huynh trưởng đi xa và hẹn là sẽ đến thăm một ngày gần nhất. Thầy của chúng ta là vậy đó, ân cần và chu đáo. Bởi lẽ lòng từ bi của Đạo Pháp đã thấm nhuần trong suy nghĩ và hành động của Người.

Đã có lần Thầy tâm sự rằng: “Thầy đến Mỹ khi đã 30 tuổi và Thầy không biết Tiếng Anh nhiều nên khi gặp người Mỹ hỏi thì Thầy trả lời ‘I’m a monk’ một cách đầy tự hào.” Làm sao có thể quên lời Thầy dạy việc học có thể mất vài năm hay nhiều hơn nữa nhưng nếu quyết tâm thì sẽ làm được. Thầy đã hiện thực hóa hạnh tinh tấn của Đức Từ Phụ bằng lòng ham học hỏi và hoài bão gieo hạt giống Bồ đề nơi xứ người. Không ngôn từ nào khắc họa tình yêu nồng nàn màu áo lam và niềm tự hào khoác lên màu áo nâu sòng của Thầy kính yêu.

Vẫn biết rằng Thầy luôn hãnh diện về chúng con, nhưng được Thầy hướng dẫn, dạy dỗ là niềm hạnh phúc và tự hào trong mỗi chúng con. Vẫn biết rằng cuộc đời là vô thường, nhưng sự mất mát này quá lớn cho GĐPT Trúc Lâm chúng con.

Thầy ơi, làm sao chúng con có thể quên được hình ảnh một vị khán giả trung thành đặc biệt khi ngồi xem các em con biểu diễn văn nghệ chào mừng Tết cổ truyền. Dù chúng con có biểu diễn vụng về cách mấy thì Thầy vẫn ngồi đó xem không bỏ xót tiết mục nào với nụ cười hiền từ. Tết này chúng con sẽ không còn Thầy nữa, không được Thầy lì xì ban phúc cho chúng con nữa, và chúng con sẽ không còn được nghe Thầy hát, Thầy ngâm thơ cho chúng con nghe nữa...

Thầy ơi! Thầy là bóng cây che mát chúng, Thầy là ánh sáng dắt dìu lòng son... dẫu Thầy đã ra đi nhưng chúng con biết rằng Thầy vẫn sẽ dõi theo từng bước trưởng thành của chúng con, Thầy vẫn luôn là cầu nối tâm linh giữa Chư Phật với chúng con.

Chúng con tâm thành, trí kính, nguyện cầu Giác Linh Thầy sớm Cao đăng Phật Quốc, Tọa-Như-Lai-Tòa, trọn phần mãn nguyện.

Nam Mô Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật.

HT Hanh Tuan-phat tu truc lam 11 (4)

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
01/11/2010(Xem: 18639)
Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 1, Chùa Pháp Hoa (2000) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 2, Chùa Pháp Bảo (2001) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 3, Chùa Linh Sơn (2002) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 4, Tu Viện Vạn Hạnh (2003) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 5, Tu Viện Quảng Đức (2004) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 6, Chùa Phổ Quang (2005) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 7, Chùa Pháp Bảo (2006) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 8, Chùa Pháp Hoa (2007) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 9, Chùa Linh Sơn (2008) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 10, Chùa Pháp Bảo (2009) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 11, Thiền Viện Minh Quang (2010) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 12, Tu Viện Quảng Đức (2011) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 13, Tu Viện Vạn Hạnh (2012) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 14, Thiền Viện Minh Quang (2013) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 15, Tu Viện Quảng Đức (2014) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 16, Chùa Pháp Pháp Bảo (2015) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 17, Tu Viện Quảng Đức (2016) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 18, Chùa Pháp Hoa (2017) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 19, Chùa Pháp Hoa (2018)
01/11/2010(Xem: 50518)
Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 1, Chùa Pháp Hoa (2000) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 2, Chùa Pháp Bảo (2001) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 3, Chùa Linh Sơn (2002) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 4, Tu Viện Vạn Hạnh (2003) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 5, Tu Viện Quảng Đức (2004) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 6, Chùa Phổ Quang (2005) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 7, Chùa Pháp Bảo (2006) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 8, Chùa Pháp Hoa (2007) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 9, Chùa Linh Sơn (2008) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 10, Chùa Pháp Bảo (2009) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 11, Thiền Viện Minh Quang (2010) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 12, Tu Viện Quảng Đức (2011) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 13, Tu Viện Vạn Hạnh (2012) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 14, Thiền Viện Minh Quang (2013) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 15, Tu Viện Quảng Đức (2014) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 16, Chùa Pháp Pháp Bảo (2015) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 17, Tu Viện Quảng Đức (2016) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 18, Chùa Pháp Hoa (2017) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 19, Chùa Pháp Hoa (2018)
29/10/2010(Xem: 10448)
Kể từ khi vết tích của chùa Thiên Mụ được ghi lại đơn sơ trong sách Ô Châu Cận Lục vào năm 1553 (1), chùa đã tồn tại gần 450 năm cho đến ngày nay. Trải qua bao nhiêu cuộc bể dâu, chùa vẫn giữ được địa vị và vẫn đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống đạo và đời của dân Huế, nói riêng, và của dân cả nước, nói chung. Qua đầu thế kỷ 17, chùa đã thực sự đi vào lịch sử sau khi Nguyễn Hoàng vào xứ đàng trong để gây dựng cơ nghiệp đế vương với huyền thoại “bà tiên mặc áo đỏ” (9).
23/10/2010(Xem: 9138)
Trong Cây Có Hoa Trong Đá Có Lửa Kính Dâng Hòa Thượng Thích Như Điển nhân dịp mừng thọ 70 tuổi của Ngài và kỷ niệm 40 năm khai sơn Chùa Viên Giác tại Đức Quốc Tỳ Kheo Thích Nguyên Tạng “Trong Cây Có Hoa, Trong Đá Có Lửa” là lời pháp ngữ của Thiền Sư Đạo Nguyên do Hòa Thượng Thích Như Điển nhắc lại trong thời giảng Pháp của Ngài mà tôi đã nghe được khi theo hầu Ngài trong chuyến đi Hoằng Pháp tại Hoa Kỳ năm 2006. Thiền Sư Đạo Nguyên (Dogen) là người Nhật, Ngài sinh năm 1200 và tịch năm 1253, thọ 53 tuổi. Ngài là Sáng Tổ của của Soto-Zen (Thiền Tào Động) của Nhật Bản, và là tác giả bộ sách nổi tiếng “Chánh Pháp Nhãn Tạng” “Ki no naka ni, hana ga aru (Trong cây có hoa), Ishi no naka ni, hi ga aru (Trong đá có lửa)” Đó là pháp ngữ của Thiền Sư Đạo Nguyên (Dogen), được Hòa Thượng Như Điển dịch sang lời Việt. Lời thơ quá tuyệt vời, tuy ngắn gọn nhưng dung chứa cả một kho tàng giáo lý về Nhân Duyên Quả của Đạo Phật.
23/10/2010(Xem: 8999)
Trong mười thế kỷ phong kiến Việt Nam, Trần Nhân Tông là một trong những ông vua giỏi và tài hoa bậc nhất. Lịch sử đã xem ông là “vị vua hiền” đời Trần, có công lớn trong sự nghiệp trùng hưng đất nước. Văn học sẽ nhớ mãi ông bởi những vần thơ thanh nhã, sâu sắc và không kém hào hùng.
23/10/2010(Xem: 8755)
Về sự nghiệp của vua Trần Nhân Tông, đã có rất nhiều tài liệu và bài viết về hai lần lãnh đạo quân dân nước ta đánh thắng giặc Mông - Nguyên, trị quốc an dân, đối ngoại và mở cõi, nên ở đây chúng tôi không lặp lại nữa, mà chỉ đề cập đôi nét đến nội dung khác về: Trần Nhân Tông - một hoàng đế xuất gia, một thiền sư đắc đạo và là sơ tổ lập nên dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử độc đáo của Việt Nam.
23/10/2010(Xem: 8556)
Hội Phật Học Nam Việt được thành lập vào năm 1950 tại Sài Gòn do sự vận động của cư sĩ Mai Thọ Truyền. Ban đầu, hội đặt trụ sở tại chùa Khánh Hưng, và sau đó ít lâu, tại chùa Phước Hòa. Bác sĩ Nguyễn Văn Khỏe, một cây cột trụ của hội Lưỡng Xuyên Phật Học cũ đảm nhận trách vụ hội trưởng. Ông Mai Thọ Truyền giữ trách vụ tổng thư ký. Các thiền sư Quảng Minh và Nhật Liên đã triệt để ủng hộ cho việc tổ chức hội Phật Học Nam Việt. Thiền sư Quảng Minh được bầu làm hội trưởng của hội bắt đầu từ năm 1952. Năm 1955, sau khi thiền sư Quảng Minh đi Nhật du học, ông Mai Thọ Truyền giữ chức vụ hội trưởng. Chức vụ này ông giữ cho đến năm 1973, khi ông mất. Hội Phật Học Nam Việt được thành lập do nghị định của Thủ Hiến Nam Việt ký ngày 19.9.1950. Bản tuyên cáo của hội có nói đến nguyện vọng thống nhất các đoàn thể Phật giáo trong nước. Bản tuyên cáo viết: "Đề xướng việc lập hội Phật học này. Chúng tôi còn có cái thâm ý đi đến chỗ Bắc Trung Nam sẽ bắt tay trên nguyên tắc cũng như trong hành động. Sự
23/10/2010(Xem: 8098)
Cư sĩ Mai Thọ Truyền sinh ngày 01-4-1905 tại làng Long Mỹ, tỉnh Bến Tre trong một gia đình trung lưu. Thuở nhỏ ông được theo học tại trường Sơ học Pháp - Việt Bến Tre, rồi Trung học Mỹ Tho, và Chasseloup Laubat Saigon. Năm 1924, ông thi đậu Thư ký Hành chánh và được bổ đi làm việc tại Sài Gòn, Hà Tiên, Chợ Lớn. Năm 1931, ông thi đậu Tri huyện và đã tùng sự tại Sài Gòn, Trà Vinh, Long Xuyên và Sa Đéc. Hành nhiệm ở đâu cũng tỏ ra liêm khiết, chính trực và đức độ, không xu nịnh cấp trên, hà hiếp dân chúng, nên được quý mến.
23/10/2010(Xem: 13121)
Trong lịch sử dựng nước, giữ nước và xây dựng, bảo vệ Tổ quốc của dân tộc Việt Nam, vương triều Trần (1226-1400) được tôn vinh là triều đại sáng chói nhất thể hiện qua những chiến công hiển hách thắng giặc ngoại xâm cũng như chính sách hộ quốc an dân đã tổng hợp được sức mạnh của toàn dân ta cùng với vua quan trong việc bảo vệ và phát triển đất nước vô cùng tốt đẹp.
23/10/2010(Xem: 22284)
Nhiều thế kỷ trước, một vị vua đã lãnh đạo dân tộc Việt Nam hai lần đẩy lui quân Mông Cổ xâm lăng. Một hôm, vào năm 1293, vị vua anh hùng này đã rời ngôi vua, và vài năm sau trở thành một nhà sư và đã để lại một di sản Thiền Tông bây giờ vẫn còn phát triển để trở thành dòng Thiền lớn nhất tại Việt Nam. Ngài tên là Trần Nhân Tông, vị vua thứ ba của Nhà Trần và là vị sáng lập Dòng Thiền Trúc Lâm.