Thầy kính yêu

08/12/201520:37(Xem: 9764)
Thầy kính yêu

Bài Tưởng niệm của Đoàn Oanh Vũ Nữ - GĐPT Trúc Lâm

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Chúng con kính bạch Quý Chư Tôn Đức Tăng, Ni,

Chúng con kính đảnh lễ trước Giác Linh Thầy kính yêu,

Những chiếc lá vàng vẫn lặng lẽ rơi ngoài sân chùa, chỉ còn hai đêm nữa thôi là chúng con sẽ xa Thầy mãi mãi, nhưng trong tâm trí chúng con vẫn in đậm bóng hình Thầy khả kính.

Con còn nhớ, có những chiều Chủ nhật sinh hoạt, sau khi họp Huynh trưởng, con bắt gặp Thầy đang ngồi xem đi xem lại những thước phim ca nhạc của nhiều năm về trước. Thầy chỉ cho con những em oanh vũ ngày xưa nay đã là thiếu nam thiếu nữ. Thầy cũng nhớ và nhắc về những em không còn sinh hoạt nữa với đôi mắt đượm nét buồn sâu. Thầy đã luôn âm thầm lặng lẽ dõi theo từng bước trưởng thành của các em con như người cha già mong chờ đàn con đi học xa về thăm nhà.

Thầy của chúng con rất gần gũi và tâm lý. Vào những ngày sinh hoạt các em oanh vũ chúng con rất hiếu động, chạy nhảy chơi đùa ồn ào trong khuôn viên chật hẹp của chùa. Ở cương vị anh chị Trưởng, chúng con đã nói các em giữ im lặng để Thầy nghỉ ngơi. Khi Thầy nghe được,Thầy đã la rầy chúng con rằng "Nghỉ ngơi thì nghỉ ngày khác, Chủ nhật là dành cho các em" hoặc khi Thầy thấy chúng con bắt các em tu và học nhiều quá, Thầy cũng nhẹ nhàng nhắc nhở chúng con là phải cho các em có thời gian vui chơi hồn nhiên nhiều hơn.  Chúng con hiểu được tình yêu màu lam da diết trong Thầy, bởi lẽ Thầy đã luôn thấy hình ảnh Oanh vũ của mình nơi các em con.

Thầy không chỉ chăm lo cho các em đoàn sinh mà còn rất quan tâm sâu sắc đến các anh chị Trưởng.  Mỗi khi Thầy không đi xa, Thầy thường đi ra vào hỏi thăm từng anh chị em chúng con không thiếu một ai.  Thầy đã gọi hỏi thăm con của một Huynh trưởng đi xa và hẹn là sẽ đến thăm một ngày gần nhất. Thầy của chúng ta là vậy đó, ân cần và chu đáo. Bởi lẽ lòng từ bi của Đạo Pháp đã thấm nhuần trong suy nghĩ và hành động của Người.

Đã có lần Thầy tâm sự rằng: “Thầy đến Mỹ khi đã 30 tuổi và Thầy không biết Tiếng Anh nhiều nên khi gặp người Mỹ hỏi thì Thầy trả lời ‘I’m a monk’ một cách đầy tự hào.” Làm sao có thể quên lời Thầy dạy việc học có thể mất vài năm hay nhiều hơn nữa nhưng nếu quyết tâm thì sẽ làm được. Thầy đã hiện thực hóa hạnh tinh tấn của Đức Từ Phụ bằng lòng ham học hỏi và hoài bão gieo hạt giống Bồ đề nơi xứ người. Không ngôn từ nào khắc họa tình yêu nồng nàn màu áo lam và niềm tự hào khoác lên màu áo nâu sòng của Thầy kính yêu.

Vẫn biết rằng Thầy luôn hãnh diện về chúng con, nhưng được Thầy hướng dẫn, dạy dỗ là niềm hạnh phúc và tự hào trong mỗi chúng con. Vẫn biết rằng cuộc đời là vô thường, nhưng sự mất mát này quá lớn cho GĐPT Trúc Lâm chúng con.

Thầy ơi, làm sao chúng con có thể quên được hình ảnh một vị khán giả trung thành đặc biệt khi ngồi xem các em con biểu diễn văn nghệ chào mừng Tết cổ truyền. Dù chúng con có biểu diễn vụng về cách mấy thì Thầy vẫn ngồi đó xem không bỏ xót tiết mục nào với nụ cười hiền từ. Tết này chúng con sẽ không còn Thầy nữa, không được Thầy lì xì ban phúc cho chúng con nữa, và chúng con sẽ không còn được nghe Thầy hát, Thầy ngâm thơ cho chúng con nghe nữa...

Thầy ơi! Thầy là bóng cây che mát chúng, Thầy là ánh sáng dắt dìu lòng son... dẫu Thầy đã ra đi nhưng chúng con biết rằng Thầy vẫn sẽ dõi theo từng bước trưởng thành của chúng con, Thầy vẫn luôn là cầu nối tâm linh giữa Chư Phật với chúng con.

Chúng con tâm thành, trí kính, nguyện cầu Giác Linh Thầy sớm Cao đăng Phật Quốc, Tọa-Như-Lai-Tòa, trọn phần mãn nguyện.

Nam Mô Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật.

HT Hanh Tuan-phat tu truc lam 11 (4)

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
12/01/2013(Xem: 8484)
Đã có rất nhiều sách vở, bài viết hoặc với tính chất nghiên cứu, hoặc là các bài giảng phổ cập bàn về tông Thiên Thai và kinh Pháp Hoa. Bài viết này nói đến vai trò, vị trí của Đại sư Trí Khải và tông Thiên Thai trong lịch sử Phật giáo, cũng như trong nền văn hóa tư tưởng của toàn thể nhân loại. Đại sư Trí Khải sinh năm 538, vào thời đại mà sau này các sử gia gọi là Nam Bắc triều (220-589). Sông Dương Tử được lấy làm gianh giới phân chia giữa hai miền Nam và Bắc. Trong thiền sử, ta thường nghe nói đến câu Nam Năng (Huệ Năng)-Bắc Tú (Thần Tú), để phân biệt hai dòng thiền: Đại sư Thần Tú xiển dương Thiền tiệm ngộ ngay tại Trường An; Đại sư Huệ Năng phát triển Thiền đốn ngộ tại vùng Quảng Đông và lân cận. Bấy giờ Trung Hoa bị chia thành nhiều nước nhỏ, nước này xâm lăng và thôn tính nước kia, gây nên nhiều cuộc chiến tương tàn, dân chúng sống trong cảnh lầm than đau khổ.
07/01/2013(Xem: 9639)
Phần lớn độc giả biết nhiều đến các tiểu luận và các tập thơ phản chiến, nhưng ít người biết đến những bài thơ Thiền của Nhất Hạnh. Tôi xin trích một bài được nhà xuất bản Unicorn Press xuất bản trong tâp thơ Zen Poems của Nhất Hạnh vào năm 1976 (bản dịch Anh Ngữ) của Võ Đình. Bài này được in vào tuyển tập thơ nhạc họa vào mùa Phật Đản 1964
10/12/2012(Xem: 9929)
Cả cuộc đời 86 tuổi của Ngài Đội trời đạp đất, đã tròn chưa bản nguyện Kiếp tu hành 81 năm của Ngài Gánh vác hy sinh...
09/10/2012(Xem: 15171)
Thiền sư Lê Mạnh Thátcho rằng Vua Trần Nhân Tông là một nhân vật tiêu biểu trong lịch sử Việt Nam nhất là vì tư tưởng hòa giải dân tộc của ông vẫn còn tính thời sự. Trả lời câu hỏi của BBC vì sao tư tưởng của Trần Nhân Tông (trị vì từ năm 1278-1293) và là Phật Hoàng, sáng lập ra phái thiền phái Trúc Lâm vẫn còn có tính thời sự đối với Việt Nam và cả quan hệ Mỹ - Việt cũng như Việt - Trung, Tiến sỹ Lê Mạnh Thát nói:
01/10/2012(Xem: 8118)
Kính bạch Giác Linh Đức Thầy, Dẫu biết rằng: “Cuộc đời là ảo mộng, vạn vật vốn vô thường, chuyển di không ngừng nghỉ, biến diệt lẽ tự nhiên, tử sanh không tránh khỏi.” Nhưng ân đức cao dày, tình thương nồng thắm, Đức Thầy đã ban cho hàng đệ tử chúng con, chẳng những được kết thành giới thân huệ mạng, mà còn mang lại cho cuộc đời giải thoát của chúng con vô vàn hạnh phúc… Ân đức ấy, mãi mãi khắc sâu vào cuộc đời tu học của chúng con vô cùng vững chắc, dù cho thời gian, sự vô thường có thay đổi...
22/09/2012(Xem: 9777)
Ni sư Thích Nữ Như Phụng nguyên là viện chủ chùa Long Vân , sinh tiền Ni sư là cố vấn ni chúng chùa Long Vân , làm Hóa chủ trường hạ trong 6 năm , trưởng phòng châm cứu từ thiện của chùa,thành viên mặt trận tổ quốc xã Tam Phước , trưởng bếp cơm từ thiện Bệnh viện đa khoa Long Thành. Suốt cả cuộc đời ni sư tận tụy cho sự nghiệp tu hành và hoằng dương Đạo pháp , một lòng chuyên tâm Niệm Phật A Di Đà , công quả viên mãn Ni sư an nhiên tự tại vãng sanh trong lúc đứng Niệm Phật cùng đại chúng trên Đại hùng bảo điện không gian tràn ngập hương cúng dường thanh tịnh .Sau khi làm lễ trà tì ngài để lại rất nhiều xá lợi minh chứng cho công đức tu hành tinh nghiêm của một vị cao ni.
21/09/2012(Xem: 13459)
Phật hoàng Trần Nhân Tông, tên húy là Trần Khâm, sinh ngày 07/12/1258 (11/11/Mậu Ngọ), con trưởng của Vua Trần Thánh Tông và Hoàng Thái hậu Nguyên Thánh. Thân hình Ngài có những đặc điểm khác thường, nhất là có màu vàng, nên được vua cha đặt cho biệt hiệu là Phật kim.
20/09/2012(Xem: 7645)
Sáng nay con về lại Vạn Hạnh, không phải đi học, không phải nộp bài thi, không phải đi đảnh lễ,... mà để đi tiễn Ôn về với Phật. Con hòa mình vào dòng người tấp nập trên giao lộ Nguyễn Kiệm trong buổi sớm bình minh. Một ngày như mọi ngày nhưng cảnh vật hôm nay không còn bình yên nữa. Cây cỏ úa màu, hoa buồn ủ rũ. Mọi người tất bật, nôn nao bước nhanh về cổng chùa Vạn Hạnh, như sợ chậm chân sẽ không còn chỗ cho mình cung tiễn Thầy đi.
08/09/2012(Xem: 10257)
Với Hòa thượng Minh Châu, một đại sư đã ra đi. Một đại sư cỡ ấy, thế hệ chúng ta chỉ có vài vị. Vài vị, nhưng là những ngọn đuốc soi sáng đường đi cho cả một nửa thế kỷ. Hôm nay, ngọn đuốc gần như là cuối cùng ấy đã tắt. Đã tắt, để nói với chúng ta, như Phật đã nói khi nhập diệt: Hãy tự thắp đuốc lên mà đi.
08/09/2012(Xem: 7954)
Tin Sư Ông ra-đi-về cõi bất sinh đã dệt nên những cơn bồi hồi, xúc động. Biết nói cái gì, và sẽ nói cái gì về một vầng ánh sáng chói lọi vừa lịm tắt? Càng cố nói về cái “rạng rỡ” thì càng trở nên vụng về! Nhưng vượt lên trên tất cả và vẫn còn hiện hữu nơi đây là tấm lòng tri ân sâu sắc đối với công trình dịch thuật Kinh tạng của Người. Lòng tri ân sâu thẳm đó vẫn âm ỉ trong tâm thức của những người từng có cơ duyên được học hỏi “triết lý giác ngộ”- một thứ triết lý nguyên thủyhàm chứa những kinh nghiệm chứng ngộ rất ngườicủa Đức Thế Tôn.