Hòa Thượng Thích Thiện Thanh

10/04/201311:19(Xem: 8977)
Hòa Thượng Thích Thiện Thanh

htthichthienthanh

Tiểu sử
Hòa thượng Thích Thiện Thanh

(1935 – 1995)

---o0o---

Hòa Thượng Thích Thiện Thanh thuộc dòng thiền Lâm Tế Gia Phổ đời thứ 41, thế danh Nguyễn Văn Sắc, nguyên quán làng Phú-Nhuận, Nha-Mân, tỉnh Sa-Ðéc miền Nam nước Việt (nay thuộc huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp), sinh Năm Ất Hợi (1935) Niên hiệu Bảo Đại năm thứ 20. Song thân Ngài là Cụ Nguyễn Văn Xướng và Cụ Bà Huỳnh Thị Thâu đều kính tin Tam Bảo.

Ngài là bậc đồng chơn học đạo. Lúc tám tuổi Ngài được Ðại Lão Hòa Thượng Thích Bửu Chung tiếp độ tại Tổ đình Phước Long Cổ Tự, Rạch Ông Yên, Nha Mân, tỉnh Sa Ðéc và bổn sư của Ngài là Hòa Thượng Thích Huệ Hòa thuộc dòng Lâm Tế gia phổ. Năm lên 15 tuổi Ngài thọ Sa Di giới với Ðại Lão Hòa Thượng Thích Chánh Quả, tại tổ đình Kim Huê tỉnh Sa Ðéc với pháp hiệu là Không Sắc, húy Nhất Thanh.

Năm 20 tuổi Ngài thọ đại giới cùng đậu cấp bằng Hán ngữ học tại Trung Tâm Ấn Quang và Ngài giảng pháp lần đầu tiên tại Long Quang Tự đường Nguyễn Huỳnh Ðức, quận Phú Nhuận, Sài Gòn Tân Sửu (1961).

Năm Giáp Thìn (1964) Ngài được bổ nhiệm làm việc với Tổng Vụ Tăng Sự, phụ trách ngành Tăng Tịch và kiêm nhiệm Trưởng Ban Tăng Tịch cho Tổ đình Ấn Quang. Ngài đậu tú tài toàn phần năm Ất Tỵ (1965), dạy Pháp văn tại trường Bồ Ðề Chợ Lớn và du học Thái Lan do chính phủ Thái đài thọ.

Năm Đinh Mùi (1967) Ngài từ Thái Lan sanh Ấn Ðộ nghiên cứu các đề tài thuộc Phật Giáo Nguyên Thủy tại Viện Nalanda Pali Research Institute, Bihar.

Năm Mậu Thân (1968) Ngài đậu bằng Cao Học Cổ Ngữ (Palyacharya) tại Ðại Học Sankrit University Darbhanga.

Năm TÂn Hợi (1971) Ngài đậu thêm cử nhân và cao học Anh văn.

Năm Bính Thìn (1976) Ngài đậu tiến sĩ tại Ðại Học Magadha Gaya với luận án “A Comparative Study of the Pali Digha Nikaya and ChinaAgama” so sánh Trường Bộ Kinh với Kinh Trường A Hàm.

Ngài còn là tác giả nhiều tác phẩm nghiên cứu có giá trị như:

1- Phật Giáo Ấn Ðộ Ngày Nay.

2- Phật Giáo trong Việt Nam, Ấn Ðộ hay Trung Hoa.

3- Hoàng Ðế Asoka.

4- Bốn Ðức Tánh Cao Quý của Giác Ngộ.

v.v.

Ngài được chính phủ Ấn Ðộ mời dạy ngữ học và lịch sử tại Ðại Học Sri VekaTesvana, Tirapati. Trước đó Ngài cũng đã được chính phủ Việt Nam Cộng Hòa mời về làm Viện Trưởng Ðại Học Cần Thơ.

Năm Mậu Ngọ (1978) Ngài từ việc ở Ðại Học Sri VekaTesvana, Tirapati, sang Mỹ dưới sự bảo trợ của chùa Việt Nam (Los Angeles), nhận chức Phó Chủ Tịch Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ (12/78) kiêm giảng sư của Ðại Học University of Oriental Studies tại Los Angeles.

Năm Kỷ Mùi (1979) Ngài nhận chức Giám đốc Trung Tâm Tỵ Nạn Ðông Dương.

Kể từ đầu thập niên 80 cho đến nay Ngài về Long Beach, thành lập hội Phật Giáo Long Beach và xây dựng Tự Viện Phật Tổ. Với ý chí phục vụ đạo pháp và hướng dẫn Phật tử sống xa thành phố Los Angeles, Ngài không quản khó khăn, tận tụy hoằng hóa độ sanh cho đến hơi thở cuối cùng. Quả thật vậy, tuy thân xác Ngài thập tử nhất sinh ở bệnh viện nhưng tâm niệm Ngài vẫn không ngớt âu lo cho lể Phật Ðản tại chùa.

Nhưng niềm lo lớn nhất của Ngài là công việc nghiên cứu và dịch thuật đang dang dở; Ngài đã thực hiện được;

1- Tập “Nghi Thức Tụnh Niệm Hằng Ngày” ngắn ngọn và dễ hiểu phù hợp với nhu cầu thiết yếu của giới Phật tử hải ngoại.

2- Hai tập đầu của “Kinh Ðại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm” in khổ lớn, trình bày hết sức mỹ thuật, tổng cộng gần nghìn trang. Ðây là một công trình lớn lao đòi hỏi một sự cộng tác của nhiều học giả nghiên cứu phân tích tài liệu, Ngài viết “Khi dịch, dịch giả đã cân nhắc cẩn thận sợ rằng: “Y kinh giải nghĩatam thế Phật oan, Ly kinh nhất tự tức đồng ma thuyết”.Vì vậy, mất quá nhiều thì giờ, dịch giả phải so sánh bản chữ Hán này với bản Sanskrit…”. Với sự hiểu biết nguyên thâm về Phật pháp của một tu sĩ công phu thiền tập với Lục Diệu Pháp Môn, với một căn bản cổ ngữ và ngoại ngữ phong phú của một học giả nghiêm túc, Ngài biết trước công việc mình cần phải làm nên thường nói: Tôi cần phải phiên dịch bộ Hoa Nghiêm vì không còn sống bao năm.

Ngài là một bậc cao Tăng đầy đủ mọi đức tính Từ bi hỷ xả, luôn luôn tận tình vì đạo, sống đơn giản, đạm bạc, tuy nghiêm với mình và khoan dung với người nhưng không chấp nhận xa hoa hay cẩu thả, tuy khiêm nhường từ tốn nhưng vẫn hài hước trào phúng mà không mất lòng ai.

Tự Viện Phật Tổ là một ngôi chùa tôn, chật hẹp, tối tăm, oi bức mùa hè, ẩm thấp mùa đông, nằm giữa một khuôn viên “Chung cư bàn Cờ”. Bao nhiêu thù lao dạy học gom với tịnh tài thí chủ, thay vì xây chùa cao cổng rộng Ngài chuyển sang mục phiên dịch và ấn tống kinh sách nên luôn luôn túng thiếu. Mãi cho đến giờ Viên tịch, đệ tử mới biết Ngài mặc áo quần vá tại xứ Hoa Kỳ.

Trăm năm ba vạn sáu ngìn ngày;

Gắng công suy xét nguyên lai là gì ?

Sau thời gian điều trị bệnh tại bệnh viện, nhân duyên Ta Bà quả mãn, Ngài an nhiên thu thần tịch diệt vào lúc 10:40 ngày 18 tháng 7 năm Ất Hợi (1995).

Hưởng thọ 61 Xuân. An cư 40 Hạ.

Mười lăm năm cuối cùng ngắn ngủi sống với kinh Hoa Nghiêm tại Tự Viện Phật Tổ chính lại là giai đoạn quan trọng nhất của cuộc đời tại thế độ sanh của một bậc đồng chơn nhập đạo.

Thích Vân Phong biên tập

(theo môn phong pháp phái Chùa Phật Tổ, Hoa Kỳ)

----o0o---

Trình bày: Tịnh Tuệ

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
23/10/2010(Xem: 8372)
Hội Phật Học Nam Việt được thành lập vào năm 1950 tại Sài Gòn do sự vận động của cư sĩ Mai Thọ Truyền. Ban đầu, hội đặt trụ sở tại chùa Khánh Hưng, và sau đó ít lâu, tại chùa Phước Hòa. Bác sĩ Nguyễn Văn Khỏe, một cây cột trụ của hội Lưỡng Xuyên Phật Học cũ đảm nhận trách vụ hội trưởng. Ông Mai Thọ Truyền giữ trách vụ tổng thư ký. Các thiền sư Quảng Minh và Nhật Liên đã triệt để ủng hộ cho việc tổ chức hội Phật Học Nam Việt. Thiền sư Quảng Minh được bầu làm hội trưởng của hội bắt đầu từ năm 1952. Năm 1955, sau khi thiền sư Quảng Minh đi Nhật du học, ông Mai Thọ Truyền giữ chức vụ hội trưởng. Chức vụ này ông giữ cho đến năm 1973, khi ông mất. Hội Phật Học Nam Việt được thành lập do nghị định của Thủ Hiến Nam Việt ký ngày 19.9.1950. Bản tuyên cáo của hội có nói đến nguyện vọng thống nhất các đoàn thể Phật giáo trong nước. Bản tuyên cáo viết: "Đề xướng việc lập hội Phật học này. Chúng tôi còn có cái thâm ý đi đến chỗ Bắc Trung Nam sẽ bắt tay trên nguyên tắc cũng như trong hành động. Sự
23/10/2010(Xem: 7935)
Cư sĩ Mai Thọ Truyền sinh ngày 01-4-1905 tại làng Long Mỹ, tỉnh Bến Tre trong một gia đình trung lưu. Thuở nhỏ ông được theo học tại trường Sơ học Pháp - Việt Bến Tre, rồi Trung học Mỹ Tho, và Chasseloup Laubat Saigon. Năm 1924, ông thi đậu Thư ký Hành chánh và được bổ đi làm việc tại Sài Gòn, Hà Tiên, Chợ Lớn. Năm 1931, ông thi đậu Tri huyện và đã tùng sự tại Sài Gòn, Trà Vinh, Long Xuyên và Sa Đéc. Hành nhiệm ở đâu cũng tỏ ra liêm khiết, chính trực và đức độ, không xu nịnh cấp trên, hà hiếp dân chúng, nên được quý mến.
23/10/2010(Xem: 12952)
Trong lịch sử dựng nước, giữ nước và xây dựng, bảo vệ Tổ quốc của dân tộc Việt Nam, vương triều Trần (1226-1400) được tôn vinh là triều đại sáng chói nhất thể hiện qua những chiến công hiển hách thắng giặc ngoại xâm cũng như chính sách hộ quốc an dân đã tổng hợp được sức mạnh của toàn dân ta cùng với vua quan trong việc bảo vệ và phát triển đất nước vô cùng tốt đẹp.
23/10/2010(Xem: 21876)
Nhiều thế kỷ trước, một vị vua đã lãnh đạo dân tộc Việt Nam hai lần đẩy lui quân Mông Cổ xâm lăng. Một hôm, vào năm 1293, vị vua anh hùng này đã rời ngôi vua, và vài năm sau trở thành một nhà sư và đã để lại một di sản Thiền Tông bây giờ vẫn còn phát triển để trở thành dòng Thiền lớn nhất tại Việt Nam. Ngài tên là Trần Nhân Tông, vị vua thứ ba của Nhà Trần và là vị sáng lập Dòng Thiền Trúc Lâm.
22/10/2010(Xem: 26642)
Vào khoảng các năm 1972–1974, Cố Hòa thượng Thích Trí Thủ, thường được Tăng Ni-Phật tử gọi cung kính gần gũi là “Ôn Già Lam”, đang trong thời gian dài hoằng pháp tại Nha Trang và các tỉnh miền Trung, Ôn tạm an trú trên chùa Hải Đức, nơi có Phật học viện Trung Phần, trên ngọn đồi Trại Thủy. Khoảnh vườn và thềm hiên phía trước tịnh thất của Ôn dần dà trở thành một hoa viên nho nhỏ với nhiều cây cảnh hoa lá đẹp lạ, là nhờ ở bàn tay chăm sóc thương yêu của một vị cao tăng đức độ nhân từ.
22/10/2010(Xem: 9219)
Chuông ngân chùa xẩm nắng Hương quyện áo tràng bay Trăm tám vì sao rạng Xoay tròn đôi 1óng tay Mười phương cây lặng gió Năm sắc hồ trôi mây Làn nước lên đầu núi Ánh vàng tràn đó đây.
21/10/2010(Xem: 10264)
Trong cõi nhân gian mịt mù tăm tối vì vô minh và phiền não, sự xuất hiện của một bậc chân tu đạo hạnh để dìu dắt con người trên đường tìm về giác ngộ và giải thoát, quả thật không khác gì một vì sao sáng trên bầu trời làm định hướng cho lữ hành trong đêm tối. Trong ý nghĩa này, Cố Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Trí Chơn là một vì tinh tú sáng rực.
20/10/2010(Xem: 8114)
Hòa thượng Thích Trừng San, pháp tự Minh Hiền, hiệu Hải Tuệ, thế danh Nguyễn San sau đổi là Trần Văn Lâu, nối pháp đời thứ 42 dòng Lâm Tế Liễu Quán. Ngài sinh năm Nhâm Tuất (1922), tại thôn Phú Khánh, xã Diên Thạnh, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa.
19/10/2010(Xem: 14695)
Sáng ngày 22.01 Quý Tỵ (03.03.2013) tại Tổ đình Tường Vân, tổ 16, khu vực 5, phường Thủy Xuân, thành phố Huế, Chư Tôn đức Tăng Ni trong sơn môn pháp phái Tường Vân đã đã trang nghiêm trọng thể tổ chức Lễ Tưởng niệm 40 năm ngày Đức Trưởng lão Đệ Nhất Tăng thống Thích Tịnh Khiết viên tịch.
16/10/2010(Xem: 11151)
Ấn tượng khó quên mà lần đầu tiên tôi gặp Thầy Phạm Công Thiện là Thầy đã khuyên tôi nên tinh tấn tu tập, thực hành lời Phật dạy và niệm Phật. Lần đó là vào giữa năm 1991, nửa năm sau khi tôi từ New York dời về Cali để sống, tại Chùa Diệu Pháp, thành phố Monterey Park, Los Angeles. Trong đầu tôi, trước khi gặp Thầy, mường tượng ra một Phạm Công Thiện hiên ngang và nói thao thao bất tuyệt về triết học Tây Phương, về Trung Quán, về Bát Nhã, v.v... Nhưng không, tất cả những suy nghĩ viễn vông và mộng tưởng đó đều bị sụp đổ tan tành khi tôi ngồi đối diện với Thầy Phạm Công Thiện trong một căn phòng nhỏ ở Chùa Diệu Pháp. Thầy Phạm Công Thiện, với dáng điệu từ tốn, khiêm cung, trầm lặng, chỉ nói những điều hết sức bình thường, chỉ khuyên những điều hết sức phổ thông mà người Phật tử nào cũng thường nghe quý Thầy khuyên bảo như thế.