Hòa Thượng Thích Huệ Quang

4/10/201311:17(View: 11235)
Hòa Thượng Thích Huệ Quang


hthuequang



CÁO PHÓ

-Ban Thường trực Hội đồng Chứng minh, HộI đồng Trị sự GHPGVN;

-Ban Trị sự Tỉnh hội Phật giáo tỉnh Khánh Hòa;

-Môn phong Tổ đình Nghĩa Phương

-Môn Đồ Pháp Quyến chùa Đông Phước vô cùng kính tiêc báo tin:

Hòa ThượngTHÍCH HUỆ QUANG

- Thành viên Hội đồng Chứng minh Giáo hội Phật giáo Việt Nam;

- Chứng minh Ban Trị Sự Tỉnh hội Phật giáo Khánh Hòa;

- Huynh trưởng Môn phong Tổ đình Nghĩa Phương;

- Viện chủ chùa Đông Phước, phường Phước Long, TP. Nha Trang

Vì tuổi cao sức yếu, Hòa thượng đã thâu thần viên tịch vào lúc 01 giờ 20 ngày 29.8.2009 (nhằm ngày 10 tháng 7 năm Kỷ Sửu) tại chùa Đông Phước, Phường Phước Long, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa

- Trụ thế : 83 năm

- Hạ lạp : 57 năm

-Lễ nhập kim quan chính thức cử hành vào lúc: 08 giờ 00 ngày 11.7.Kỷ sửu tức ngày 30.08.2009 – Kim quan cố Đại lão Hòa thượng được tôn trí tại chùa Đông Phước

- Lễ viếng bắt đầu vào lúc: 09 giờ 00 ngày 30.08.2009 (11.7. Kỷ Sửu)

- Lễ tưởng niệm chính thức cử hành vào lúc: 14 giờ 30 ngày 16.7.Kỷ sửu tức ngày 04.09.2009

- Lễ nghinh kim quan nhập bảo tháp vào lúc: 15 giờ ngày 16.09 2009, tức ngày 04.09.2009 tại chùa Đông Phước

Nay Cáo Phó

TM.BAN THƯỜNG TRỰC HĐCM –HĐTS GHPGVN.

BAN TRỊ SỰ TỈNH HỘI PHẬT GIÁO KHÁNH HOÀ

MÔN PHONG TỔ ĐÌNH NGHĨA PHƯƠNG

và MÔN ĐỒ PHÁP QUYẾN

PHÓ CHỦ TỊCH THƯỜNG TRỰC

(Ấn ký)

Hoà Thượng THÍCH TỪ NHƠN

hthuequang

TIỂUSỬ

CỐ ĐẠI LÃO HÒA THƯỢNGTHÍCH HUỆ QUANG

(1927 - 2009)

Thành viên Hội đồng Chứng minh Giáo hội Phật giáo Việt Nam

Chứng minh Ban trị sự Tỉnh hội Phật giáo Khánh Hoà

Huynh Trưởng Môn phong Tổ đình Nghĩa Phương

Viện chủ Chùa Đông Phước, Phước Long, TP. Nha Trang, Khánh Hoà

THÂN THẾ VÀ SỰ NGHIỆP

Đại lão Hòa Thượng THÍCH HUỆ QUANG, húy thượngKhônghạHành, tự Từ Tâm, hiệu Huệ Quang, thuộc dòng Lâm Tế chánh tông đời thứ 41. Thế danh Dương Quyền. Ngài sinh ngày 10 tháng 01 năm Đinh Mão (1927) tại thôn Phước Hải, huyện Vĩnh Xương, tỉnh Khánh Hòa.

Thân phụ là cụ Dương Dõng, người gốc ở Gia Định, phủ Long An, tổng Long Hưng hạ, xã Phước Lợi, là một nhà Nho uyên bác, sùng kính Tam Bảo. Sinh thời thân phụ của ngài thủ chức Kinh Thơ Lại Nê Tấn Thừa Sự, tỉnh Gia Định, Hàm Bát phẩm. Hoàn cảnh Nam phần lúc bấy giờ thuộc quyền cai trị của Pháp, nên cả gia đình di tản ra Khánh Hoà, ở vùng Lục Đồn, Nha Trang.

Thân mẫu là cụ bà Huỳnh Thị Na, người ở thôn Tân Tế, phủ Ninh Hoà, Khánh Hoà. Ngài là người con thứ ba trong gia đình có 4 người con. Năm 13 tuổi Ngài đậu Sơ học Yếu lược. Năm 1939, ngài tham học Cours Prémier tại trường Kim Yến Nha Trang. Sau khi thân phụ ngài qua đời, ngài luôn cận kề bên thân mẫu để chăm dưỡng mẹ già. Mỗi lần về quê thăm mẹ, ngài thường viếng chùa Thiên Bửu Thượng (phủ Ninh Hòa) và từ đó ngài xin học đạo với Thượng Toạ Trụ trì, huý Chơn Du, Tự Chánh Thức, hiệu Nhơn Thiện và được Hoà Thượng Nhơn Hoằng hướng dẫn học đạo.

Sau khi Tổ Nhơn Thiện về Nha Trang, đảm nhiệm trụ trì chùa Đông Phước. Năm 1942 (Nhâm Ngọ) năm Ngài 15 tuổi, xin xuất gia tại đây và được Bổn sư cho pháp danh Không Hành. Lúc này vừa học đạo, vừa học Hán văn với Giáo sư Nguyễn Đức Trọng (tức Nguyễn Hoành) được gần 4 năm thì Cách mạng khởi nghĩa, nhằm vào tháng 8 năm 1945 (Ất Dậu).

Lúc bấy giờ, do chiến tranh hổn loạn, chùa Đông Phước bị giặc đốt, cả xóm gần chùa cũng bị đốt phá. Ngài đưa mẫu thân về Ninh Hòa để lánh nạn. Đến năm 1948 (Mậu Tý) mẹ Ngài qua đời.

Năm 23 tuổi, với lòng quyết chí học đạo, nên Ngài trở về lại chùa Đông Phước thọ giáo với Bổn sư là Hoà Thượng Thích Minh Huệ và được phú pháp tự là Từ Tâm.

Đến năm Nhâm Thìn (1952) 25 tuổi, Ngài thọ Cụ túc giới tại Giới đàn chùa Thiên Bửu, Ninh Hoà, do Tăng cang Hoà Thượng Thích Trí Thắng, Viện chủ chùa Thiên Hưng, Phan Rang làm Đàn đầu truyền giới.

Từ đó ngài sớm hôm học đạo với Bổn sư là HT Thích Minh Huệ. Đến năm 1959 HT Thích Minh Huệ viên tịch. Năm 1960, được Bổn tự, Bổn đạo cung thỉnh ngài làm Trụ trì chùa Đông Phước. Cũng năm đó (1960) được Hoà Thượng Thích Bích Lâm, Viện chủ Tổ đình Nghĩa Phương phú pháp nhãn tạng, đặt hiệu là Huệ Quang, pháp tử đầu tiên môn phong Nghĩa Phương.

Từ năm 1962, ngoài trách nhiệm tại Bổn tự, ngài còn tham gia công tác giáo hội:

-Năm 1962 tu bổ lại chùa Đông Phước lần thứ nhất, vì bị chiến tranh năm 1945 đốt phá hư sập.

-Năm 1966: Phó Tăng trưởng Tỉnh hội Phật gíáo Cổ truyền Khánh Hoà.

-Từ năm 1968 đến năm 1975: Ngài được suy cử làm Tăng trưởng Tĩnh hội Phật giáo Cổ truyền Khánh Hoà.

-Từ năm 1970 đến năm 1973: kiêm chức Tổng Thư Ký Ban Đại diện Phật giáo Cổ truyền Trung Phần.

-Từ năm 1972 đến năm 1975 lập Trường Tiểu học Bát Nhã nằm ở sau chùa để dạy dỗ con em Phật tử nghèo.

-Sau khi GHPGVN được thành lập, ngài được đề cử các chức vụ:

Từ năm 1982: Uỷ viên Hoằng pháp, Ban Trị sự Tỉnh hội Phật giáo tỉnh Phú Khánh, nhiệm kỳ I (1982-1985) và NK II (1986-1989). Tiếp đó, ngài đảm nhiệm chức vụ Trưởng ban Hoằng pháp Ban Trị sự tỉnh hội Phật giáo Khánh Hoà, nhiệm kỳ 1991-1994 và lưu nhiệm đến năm 1996.

Về phần tham dự các giới đàn:

Trong suốt thời gian hành đạo Cố Đại lão HT. Thích Huệ Quang đã đảm nhận nhiều trọng trách trong các giới đàn truyền giới trên cả nước như:

1.-Ngày 27.9 năm Nhâm Dần (1962): Đệ tứ Tôn chứng, tại Giới đàn chùa Long Quang, Phú Nhuận, Sài Gòn.

2.-Năm Ất Tỵ (1965): Đệ nhất Tôn chứng Giới đàn chùa Thiền Lâm, Quận 6, Lục Tỉnh, Sài Gòn.

3.-Ngày 26.02.năm Mậu Thân (1968) được suy tôn Giáo Thọ A Xà Lê sư, tại giới đàn chùa Phật Ấn, đường Trần Hưng Đạo, Sài Gòn.

4.-Ngày 15.3.Kỷ Dậu (1969), được suy tôn Yết Ma A Xà Lê sư, tại giới đàn chùa Nghĩa Phú, xã Hoà Thắng, huyện Tuy Hoà, tỉnh Phú Yên.

5.- Ngày 10.4.Canh Tuất (1970) được Tôn cử Tuyên Luật sư tại giới đàn chùa Phước Duyên, Diên Khánh.

6.- Ngày 15.7.Canh Tuất (1980) được Chư Tôn giáo phẩm Giáo hội Phật giáo Cổ Truyền Việt Nam suy tôn Hoà Thượng tại giới đàn chùa Cổ tích Bửu Phong, Thị xã Biên Hoà.

7.- Thành viên Ban chức sự các Giới đàn như: Năm 1963: Ban Tổ chức Giới đàn chùa Sắc tứ Minh Tịnh, Quy Nhơn.

Năm 1993: Ban Chức sự Đại Giới đàn Trí Thủ I tổ chức tại chùa Long Sơn đã cung thỉnh Ngài đảm nhiệm chức vụ Chánh công văn.

Và các kỳ Đại giới đàn năm 1997, 2001, 2005 tổ chức tại Khánh Hòa, ngài được cung thỉnh làm chứng minh Đại giới đàn.

Từ năm 1990 – 1998, Ban Giám hiệu Trường Trung cấp Phật học tỉnh Khánh Hòa thỉnh ngài làm Giảng sư suốt 2 khóa I, II

Với Ngài Đạo pháp và dân tộc luôn đồng hành vì thế năm 1945, thời kỳ chống Pháp, bị Pháp bắt ở tù 8 tháng tại 5 e Baurau Nha Trang.

- Năm 1996, được tặng thưởng Huy chương vì sự nghiệp Đoàn kết dân tộc: của Trung ương Mặt Trận Tổ quốc Việt Nam.

- Tại Đại hội Đại biểu Phật giáo toàn quốc lần thứ IV (1997-2001) GHPGVN: Ngài được tấn phong Hoà Thượng.

- Tại Đại hội Đại biểu Phật giáo toàn quốc lần thứ V (2002-2007) GHPGVN: Ngài được suy tôn làm thành viên HĐCM TW GHPGVN.

* Về công tác biên dịch:

1,- Ngài đã dịch nghĩa Nghi thức Thiền môn Chánh độ, các nghi lễ thông dụng trong ứng phó Đạo tràng.

2,- Ngài đã viết Tiểu sử Tổ Khai sơn chùa Đông Phước.

3.- Biên soạn Tiểu sử chùa cổ tích Đông Phước.

Ngoài ra, Ngài cũng thường đặt câu liễn, đối, viết Thư pháp cho nhiều Tự viện trong tỉnh cũng như ngoài tỉnh.

THỜI KỲ VIÊN TỊCH

Sau hơn 50 năm hành đạo Ngài đã đào tạo được một đội ngũ Chư Tôn đức, có đạo hạnh và năng lực, tham gia công tác Phật sự của Giáo hội và công tác từ thiện xã hội.

Tuy tuổi đã ngoài 80, Ngài vẫn thân hành chống gậy để làm công tác Phật sự cũng như dóc lòng xây dựng hoàn thiện ngôi phạm vũ Đông Phước. Suốt thời gian đảm nhiêm trụ trì chùa Đông Phước, ngài đã nhiều lần trùng tu tôn tạo ngôi Tam Bảo. Đặc biệt, năm 2007, dưới sự chứng minh của Thường trực BTS THPG Khánh Hòa, Ngài đã Đại trùng tu toàn cảnh ngôi Đông Phước cổ tự như ngày nay.

Thuận thế vô thường; thân tứ đại mõi mòn theo nhật nguyệt, sau một thời gian lâm trọng bệnh. Tuy được môn phong huynh đệ, môn đồ pháp quyến, cùng quý vị Y, Bác sĩ tận tình chăm sóc, chữa trị. Song, vì tuổi cao sức yếu Ngài đã thâu thần an nhiên viên tịch, vào lúc nữa đêm giờ Tý, 01 giờ 20 ngày 10 tháng 7 năm Kỷ Sửu (2009), tại ngôi chùa Đông Phươc - nơi mà 67 năm về trước Ngài đã xuất gia. Ngài trụ thế 83 năm, hạ lạp 57 năm.

Hỡi ơi:

Dép cỏ lối về còn lưu dấu

Hoa đàm tuy rụng vẫn ngát hương

Một mai thân xác quy Tây

Danh thơm vẫn ở thế gian muôn đời

Pháp thân lồng lộng sáng ngời

Chiếu soi pháp giới rạng ngời chân như

Phụng vì:

Tân viên tịch, Đông phước Đường thượng, Từ Lâm tế chánh tông, Tứ thập nhất thế, huý thượng KhônghạHành, tự Từ Tâm, hiệu Huệ Quang,Dương Công Đại lão Hoà Thượng giác linh chứng minh.

Môn đồ pháp quyến phụng soạn


Hình ảnh lễ tang

p_0009


(xem tiếp)


Xem Chùa Đông Phước

--- o0o ---

Người gởi: Trí Bửu

Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
12/10/2010(View: 14473)
Hoà Thượng thế danh Diệp Quang Tiền, pháp danh Tâm Khai, tự Thiện Giác, hiệu Trí Ấn Nhật Liên. Ngài sanh ngày 13 tháng 10 năm Quý Hợi (1923) tại thôn Xuân Yên, xã Triệu Thượng, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, trong một gia đình thâm tín Phật Giáo. Thân phụ là cụ Diệp Chí Hoan; thân mẫu là cụ bà Phan Thị Đường. Hai cụ sinh hạ được 5 người con : 4 nam, 1 nữ - Ngài là con thứ trong gia đình, sau anh trưởng là Thầy Diệp Tôn (Thích Thiện Liên). Năm lên 6 tuổi (1928) gia đình Ngài dời về thôn Diên Sanh, xã Hải Thọ, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Thân sinh Ngài đã rước thầy Đồ Nho danh tiếng về nhà để dạy chữ Hán cho hai con. Hai anh em Ngài thường được cụ Đồ khen là thông minh, hứa hẹn một tương lai tốt đẹp. Năm lên 10 tuổi (1932), Ngài theo học Việt Văn tại thôn Diên Sanh.
12/4/2010(View: 9243)
Thái Tử Tất Đạt Đa từ bỏ cung vàng điện ngọc vợ đẹp con thơ, để ra đi tìm phương giải thoát cho chính mình và chúng sanh. Lối 1332 năm sau Thái Tử Trần Khâm (1258-1308) cũng giã từ cung vàng tìm đến núi Yên Tử để xin xuất gia, mong trở thành sơn tăng sống cuộc đời thanh thoát. Nhưng vì vua cha ép buộc nên phải trở về để kế nghiệp trị dân. Ngay từ lúc nhỏ ông dốc lòng mộ đạo Phật ước muốn được đi tu, năm lên 16 tuổi Trần Khâm đã nhường ngôi vị Đông Cung Thái Tử cho em, vua cha nài ép mãi ông mới nhận lời. Dù không được đi xuất gia lúc bấy giờ, nhưng nơi ông đã thể hiện được con người siêu việt khác thường.
12/2/2010(View: 11257)
Hòa thượng Thích Quảng Thiệp (1928-1998)
11/25/2010(View: 38581)
Trần Thái Tông là vị vua đầu của triều Trần. Ngài là đệ tử của thiền sư Viên Chứng trên núi Yên Tử. Ngài vừa làm vua vừa thực tập thiền. Ngài cũng từng thực tập thiền công án. Đây là 43 công án Vua đưa ra để cùng thực tập với tăng thân của Vua, gồm có giới xuất gia và tại gia. Thầy Làng Mai đã dịch những công án này ra tiếng Việt và tiếng Pháp năm 1968. Bản dịch tiếng Pháp xin xem ở phần phụ lục cuốn Clé Pour Le Zen, tác giả Nhất Hạnh, do nhà xuất bản JC Lattes ấn hành. Bản Hán Việt có trong Thơ Văn Lý Trần quyển II (Quyển thượng, trang 108-121), NXB Khoa Học Xã Hội.
11/24/2010(View: 16094)
Tiểu sử nhà văn Quách Tấn
11/15/2010(View: 10934)
Vào ngày 1-11-1963 khi quân đội đứng lên làm cuộc đảo chánh lật đổ chế độ của gia đình Ô. Ngô Đình Diệm - mà Hội Đồng Quân Dân Cách Mạng do Đại Tướng Dương Văn Minh cầm đầu gọi đó là cuộc “Cách Mạng” thì tôi là cậu sinh viên Luật Khoa Năm Thứ Nhất, chuẩn bị thi lên Năm Thứ Hai của Đại Học Luật Khoa Sài Gòn. Bố tôi sính đọc sách báo, vả lại gia đình cư ngụ ở xóm lao động cho nên Radio hàng xóm mở ầm ầm cả ngày khiến dù không muốn nghe nhưng cũng phải nghe tin tức từng giờ của đài phát thanh. Hơn thế nữa khi Sài Gòn nổ ra cuộc đấu tranh của Phật Giáo thì hầu như các đại học, trung học đều đóng của hoặc tự động bãi khóa.
11/10/2010(View: 12307)
Hoà Thượng thế danh Diệp Quang Tiền, pháp danh Tâm Khai, tự Thiện Giác, hiệu Trí Ấn Nhật Liên. Ngài sanh ngày 13 tháng 10 năm Quý Hợi (1923) tại thôn Xuân Yên, xã Triệu Thượng, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, trong một gia đình thâm tín Phật Giáo. Thân phụ là cụ Diệp Chí Hoan; thân mẫu là cụ bà Phan Thị Đường. Hai cụ sinh hạ được 5 người con : 4 nam, 1 nữ - Ngài là con thứ trong gia đình, sau anh trưởng là Thầy Diệp Tôn (Thích Thiện Liên). Năm lên 6 tuổi (1928) gia đình Ngài dời về thôn Diên Sanh, xã Hải Thọ, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Thân sinh Ngài đã rước thầy Đồ Nho danh tiếng về nhà để dạy chữ Hán cho hai con. Hai anh em Ngài thường được cụ Đồ khen là thông minh, hứa hẹn một tương lai tốt đẹp. Năm lên 10 tuổi (1932), Ngài theo học Việt Văn tại thôn Diên Sanh.
11/2/2010(View: 11993)
Thành kính khẩn bạch đến chư Tôn Đức Tăng Già của quý Giáo Hội, quý Tự Viện, quý tổ chức Phật Giáo cùng toàn thể chư vị thiện nam tín nữ Phật tử: Đại Lão Hòa Thượng thượng Huyền, hạ Ấn, thế danh Hoàng Không Uẩn, sinh năm 1928 tại Quảng Bình, Việt Nam
11/1/2010(View: 19200)
Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 1, Chùa Pháp Hoa (2000) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 2, Chùa Pháp Bảo (2001) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 3, Chùa Linh Sơn (2002) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 4, Tu Viện Vạn Hạnh (2003) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 5, Tu Viện Quảng Đức (2004) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 6, Chùa Phổ Quang (2005) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 7, Chùa Pháp Bảo (2006) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 8, Chùa Pháp Hoa (2007) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 9, Chùa Linh Sơn (2008) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 10, Chùa Pháp Bảo (2009) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 11, Thiền Viện Minh Quang (2010) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 12, Tu Viện Quảng Đức (2011) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 13, Tu Viện Vạn Hạnh (2012) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 14, Thiền Viện Minh Quang (2013) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 15, Tu Viện Quảng Đức (2014) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 16, Chùa Pháp Pháp Bảo (2015) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 17, Tu Viện Quảng Đức (2016) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 18, Chùa Pháp Hoa (2017) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 19, Chùa Pháp Hoa (2018)